Chương 9: Chuồng trống
Xe khách dừng ở ngã ba quốc lộ lúc bốn giờ hai mươi sáng Thứ Sáu, mười ba tháng Hai, bỏ Diếp xuống cùng cái ba lô và một thùng giấy đựng bánh mứt mua ở chợ Thủ Đức. Tài xế không đợi cô đứng vững đã đóng cửa, xe chạy tiếp ra Bắc, đèn hậu đỏ lòm nhỏ dần trên con đường thẳng tắp.
Bảy tuần nay, Mẫn không trả lời câu hỏi đó. Cô gọi, nó nói đang học. Cô nhắn, nó gửi lại một cái hình mặt cười. Cô hỏi má, má nói nhà không có chuyện gì, con về thì biết. Cô hỏi ba, ba nói "vẫn vậy". Hai chữ đó cô đã nghe mười mấy tháng, và tới đêm qua, nằm trên giường tầng của chiếc xe khách lắc lư suốt đêm, cô mới nhận ra mình chưa từng hỏi lại nó nghĩa là gì.
Gió ập vào mặt cô.
Hơn bốn năm ở Sài Gòn, cô quên mất gió Bàu Sạn mùa này. Gió không thổi, gió đẩy. Nó đẩy từ phía đông bắc, từ biển, qua mấy cánh đồng muối, qua đồi cát, mang theo cát mịn quất rát hai bên má như ai lấy giấy nhám chà. Cô kéo khăn che mặt, quàng ba lô lên hai vai, ôm thùng bánh, và đi bộ.
Từ ngã ba vào thôn hai cây số. Cô đã đi con đường này hàng nghìn lần, hồi đi học cấp hai, cấp ba, đạp xe ngược gió mỗi sáng, có hôm gió mạnh quá phải xuống dắt. Trời chưa sáng, chỉ có một vệt xám mỏng ở chân trời phía biển. Hai bên đường là mấy ruộng nho đã cắt cành chờ vụ mới, mấy giàn nho trơ khung kẽm như những cái lồng không. Có tiếng chó sủa ở đâu đó. Cái chuông trên quai ba lô kêu lóc cóc theo mỗi bước chân, và trong gió, tiếng nó nghe nhỏ xíu, như tiếng ai gõ cửa ở một phòng rất xa.
Nhà cô ở chân đồi Bàu Sạn, mái tôn đè gạch, tường quét vôi vàng đã bạc. Trời đủ sáng để cô thấy dáng nhà từ đầu con dốc. Đèn bếp đã sáng. Má cô dậy sớm.
Nhưng cô không vào nhà ngay. Cô đi vòng ra phía sau, như mọi lần về. Lần nào về, việc đầu tiên của cô cũng là ra chuồng cừu, đứng ở cửa, để con Bạc đánh hơi thấy cô và kêu lên một tiếng. Gần năm năm nay nó đã không còn đeo chuông, nhưng nó vẫn nhận ra cô, kể cả lúc cô xa nhà sáu tháng.
Chuồng cừu nằm sau nhà, sát chân đồi, vách bằng cây keo đóng dọc, mái lợp lá với tôn. Ba cô tự cất nó năm cô bảy tuổi. Cửa chuồng có một cái then gỗ to, trên then khắc một chữ D bằng dao rọc giấy, chữ cô khắc năm mười tuổi, xiêu vẹo, bị ba la vì làm hư cây then.
Cô đứng trước cửa chuồng.
Không có tiếng gì hết.
Không tiếng cừu kêu, không tiếng sột soạt của sáu chục cái thân lông chen nhau trên nền đất, không tiếng nhai. Không có mùi. Đó là điều làm cô sợ nhất. Chuồng cừu nào cũng có mùi, cái mùi nồng ấm của lông, phân, cỏ khô, mùi mà hồi nhỏ cô ghét, mùi mà bốn năm ở Sài Gòn cô thỉnh thoảng nằm mơ ngửi thấy. Giờ thì không có gì, chỉ có mùi gió.
Cái then gỗ đã gỉ ở chỗ cái đinh khóa. Chữ D vẫn còn, nhưng mờ, như bị cát mài.
Cô kéo then. Cánh cửa kêu một tiếng dài.
Bên trong trống trơn. Nền đất bằng phẳng, khô, không một cọng rơm. Mấy cái máng ăn bằng gỗ xếp chồng lên nhau trong góc, phủ một lớp cát mỏng. Cái máng nước bằng thùng phuy cắt đôi đã rỉ thủng một lỗ ở đáy. Có một tổ chim sẻ làm trên kèo mái. Có mạng nhện giăng ở góc. Ánh sáng xám của trời sắp sáng lọt qua khe vách, vẽ thành những vạch mỏng trên nền đất, như những song sắt của một cái lồng không có gì để nhốt.
Cô bước vào. Cái chuông trên ba lô kêu lóc cóc. Tiếng nó dội vào bốn vách chuồng, đi một vòng, rồi tắt. Không có con cừu nào ngẩng đầu lên nghe.
– Diếp?
Má cô đứng ở cửa chuồng, tay cầm cái đèn pin, áo khoác len cũ trùm qua cái áo bà ba. Bà nhìn con gái, nhìn cái chuồng trống, và mặt bà nhăn lại trước cả khi bà kịp nói câu thứ hai.
– Trời ơi con... Sao về sớm không báo...
– Má. Cừu đâu má?
Má cô khóc. Bà khóc như hồi nào cũng khóc, nhanh, ồn, nước mắt chảy thành dòng. Rồi bà lau mặt bằng vạt áo, nắm tay con gái kéo vào nhà.
– Vô đi con. Vô ăn sáng đi đã. Ba con dậy rồi.
Ba cô ngồi ở cái bàn tre trong gian bếp, chiếc áo khoác gió màu rêu, cái mũ len kéo sụp tới mày. Trước mặt ba là một ly cà phê đen pha phin, đang nhỏ giọt. Ba không đứng dậy. Ba nhìn cô bước vào, nhìn cái ba lô, nhìn cái chuông, rồi nhìn xuống ly cà phê.
– Về rồi hả con.
– Ba. Cừu đâu ba?
Mẫn thò đầu ra từ cái buồng phía trong, tóc rối, mắt nhắm mắt mở. Nó thấy chị nó, thấy mặt chị nó, rồi thụt đầu vào lại.
Ba cô đợi cái phin nhỏ hết giọt cuối. Ba nhấc cái phin ra, đặt lên cái nắp, rồi khuấy ly cà phê, chậm, ba vòng. Đó là cách ba cô kéo dài thời gian, cô biết, cô đã nhìn ba làm vậy cả đời mỗi khi người ta hỏi ba một câu khó.
– Ba bán rồi.
Gió đập vào mái tôn. Một viên gạch đè mái xê dịch, kêu cộp một tiếng.
– Bán hồi nào?
– Tháng Mười năm kia.
Tháng Mười năm kia. Diếp tính. Tháng Mười năm 2024. Mười sáu tháng.
– Bán hết?
– Hết. Sáu mươi hai con.
– Sao ba không nói con?
Ba cô uống một ngụm cà phê. Má cô đứng ở bếp, quay lưng, đập trứng vào cái chén, đập mạnh tới mức vỏ trứng vỡ vụn rơi vào cả chén.
– Nói con làm gì. Con học.
– Ba!
– Má con mổ hồi đầu năm đó, mượn bên ngoài sáu chục triệu. – Ba cô nói. Ba nói mà không nhìn cô, nói vào ly cà phê, như đọc cái gì đó viết dưới đáy ly. – Năm đó hạn, cỏ cháy hết từ tháng Ba. Phải mua cỏ khô cho cừu ăn, mỗi tháng mấy triệu. Con năm thứ tư, năm thứ năm, học phí. Thằng Mẫn lên cấp ba. Ba tính rồi. Không bán thì tới Tết năm ngoái là cừu chết đói mà nợ vẫn còn.
– Bán được bao nhiêu?
– Một trăm chín chục.
Một trăm chín mươi triệu. Diếp đứng giữa bếp, ba lô còn trên vai. Cô nhẩm. Sáu mươi triệu nợ. Hai năm học phí của cô, năm mươi sáu triệu. Tiền trọ cô ba gửi mỗi tháng. Học phí, sách vở của Mẫn. Cỏ khô. Còn lại bao nhiêu? Không còn bao nhiêu.
Hai mươi tám triệu học phí năm cuối mà ba gửi lên hồi tháng Tám, gửi một lần, không than một câu. Cô đã tưởng đó là tiền bán một lứa cừu con.
– Bán cho ai ba?
– Lái. Ba Trọng.
– Ba Trọng là ai?
– Lái cừu. Ở ngoài chợ. Con không biết đâu.
– Rồi giờ ba làm gì?
– Ba đi chăn thuê. – Ba cô đặt ly cà phê xuống. – Cho người ta. Ở gò bên kia. Người ta mua cừu về gửi nuôi, trả lương tháng.
Má cô bưng đĩa trứng chiên ra, đặt xuống bàn, đặt thêm một rổ bánh mì. Bà không nói gì. Bà ngồi xuống cạnh ba, hai tay để trên đùi, nhìn con gái bằng đôi mắt đỏ.
– Còn mấy cái video ba gửi con? Con Bạc. Mấy cái video tháng nào ba cũng gửi.
– Video cũ. – Ba cô nói. – Ba quay hồi trước, ba để dành.
Diếp nhớ cái video tháng Chín, cái đồi có rặng keo thẳng hàng, cái mái chuồng lợp tôn nghiêng về một phía. Cô nhớ ba nói "gò bên kia, cỏ bên này cháy hết rồi".
– Video tháng Chín là gò bên kia. – Cô nói. – Ba nói ba lùa cừu qua gò bên kia. Tháng Chín năm nay.
Ba cô im. Ba lấy một ổ bánh mì trong rổ, bẻ đôi, bỏ xuống đĩa. Không ăn.
– Thì cừu người ta. Ba quay con cừu người ta, giống con Bạc.
– Ba nói dối con.
– Ừ. – Ba nói. – Ba nói dối con.
Cô không biết mình đã ngồi xuống ghế từ lúc nào. Cô chỉ biết là cái ba lô đã rơi xuống nền nhà, và cái chuông nằm nghiêng trên nền xi măng, cái chỗ móp quay lên như một con mắt nhắm. Mẫn đã đi ra, đứng ở cửa buồng, hai tay nhét túi quần, nhìn chị nó. Nó mười sáu tuổi mà nhìn cô bằng cái nhìn của một người lớn hơn nhiều.
– Em nhắn chị rồi mà. – Nó nói nhỏ. – Em nói đừng hoảng.
Cô không ăn sáng. Cô ra sau nhà, ngồi trên cái bậc thềm xi măng nhìn ra cái chuồng trống, cho tới khi mặt trời lên khỏi rặng đồi và gió bớt rát. Ở xa, phía biển, những ô ruộng muối trắng lóa như một tấm gương vỡ.
Chiều, ông Tư tới.
Cô nghe tiếng xe Cub trước khi thấy ông, cái tiếng máy giòn, hụt hơi ở mỗi lần sang số, không lẫn với chiếc xe nào trong xã. Ông dựng xe trước sân. Cái cánh dè trước vẫn sơn xanh, đã tróc nhiều chỗ, vết móp hình lưỡi liềm vẫn còn đó. Ông đội cái nón cối cũ, mặc áo sơ mi bỏ ngoài quần, tay xách một bịch nho đỏ.
– Con Diếp về hả.
– Dạ con chào ông.
Ông nhìn cô một cái, cái nhìn từ trên xuống dưới, như ông nhìn một con bò để đoán nó bệnh hay không. Rồi ông vào nhà, ngồi xuống cái ghế quen của ông ở góc bàn, chỗ có thể nhìn ra cửa sổ thấy đồi.
Má cô pha trà. Ấm trà nhỏ, bốn cái chén. Ông Tư với tay lấy cái ấm, tự rót cho mình, như ông vẫn làm từ hồi cô còn nhỏ, ông không chịu để ai rót cho.
Diếp nhìn tay ông.
Tay ông cầm cái ấm, nghiêng nó. Nước trà chảy ra, nhưng không chảy thẳng xuống cái chén. Nó run. Cái vòi ấm run lẩy bẩy, nước trà vàng văng ra ngoài thành chén, chảy thành một vũng nhỏ trên mặt bàn tre. Ông dừng lại, đặt ấm xuống, lấy tay kia nắm cổ tay mình, đợi vài giây, rồi rót tiếp. Lần này vào được nửa chén.
Không ai nói gì. Má cô lấy khăn lau vũng nước. Ba cô nhìn ra cửa sổ.
– Ông. – Diếp nói.
– Ừ.
– Ông biết ba con bán cừu hả ông?
Ông Tư nâng chén trà lên, bằng hai tay, uống một ngụm.
– Biết.
– Ông biết từ hồi đó?
– Ừ.
– Hồi tháng Mười Một ông gọi con. Ông nói đàn cừu gầy, không chích thử được. – Giọng cô run, cô ghét nó run, nhưng không dừng được. – Ông nói dối con.
Ông Tư đặt chén trà xuống. Lần này ông đặt trúng.
– Ba mày dặn. Tao giữ lời ba mày.
Ông không xin lỗi. Ông không giải thích. Ông chỉ ngồi đó, uống hết chén trà, nói chuyện với ba cô về con bò nhà chú Mến mới đẻ, về giá cỏ khô, về cái giếng khoan của xã. Rồi ông đứng dậy, đội nón, ra xe. Lúc đi ngang chỗ cô, ông dừng lại, nhìn cái ống nghe cô đeo trên cổ, cái ống nghe của ông, cô đeo cả trên đường về vì không muốn cất vào ba lô cho nó gập.
Ông không nói gì về nó. Ông đi ra sân, đạp máy. Cái xe Cub nổ ba lần mới nổ. Tiếng máy giòn, hụt hơi, nhỏ dần về phía đầu thôn.
Tối, cơm xong, má cô rửa chén, Mẫn trốn vào buồng. Diếp ngồi lại với ba ở cái bàn tre. Ngoài trời gió rít. Bóng đèn tròn trên đầu đung đưa theo gió lùa qua khe cửa.
– Ba.
– Ừ.
– Con Bạc đâu ba?
Ba cô không khuấy cà phê, vì không có ly cà phê nào. Ba nhìn hai bàn tay mình đặt trên mặt bàn, hai bàn tay đen sạm, chai cứng, có một vết sẹo dài trên mu bàn tay trái do dây kẽm gai cào năm nào đó.
– Ba bán chung với cả đàn.
– Người ta mua nó làm gì? Nó mười tuổi rồi, nó què. Người ta mua nó làm gì ba?
Ba cô im rất lâu. Lâu tới mức má cô dưới bếp ngừng rửa chén, tiếng nước tắt.
– Người ta làm thịt rồi. – Ba nói.
— Hết chương 9 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe