Chương 18: Hai
– Cái máy này chụp được xương hả?
Ông Tư đứng trước cái máy X-quang trong phòng hình ảnh, hai tay chắp sau lưng, cái nón cối kẹp dưới nách. Ông nghiêng đầu nhìn cái cánh tay máy to như vòi con voi treo lơ lửng trên cái bàn chụp. Anh Hậu đứng bên cạnh, áo blouse khoác ngoài áo thun, mới đi phép từ Bến Tre lên hôm qua, mặt còn đen hơn mọi khi một tông.
– Dạ, chụp được ông. Chó gãy chân, mèo nuốt kim, mình chụp là thấy liền.
– Thấy liền. – Ông Tư gật gù. – Hồi đó tao sờ bằng tay. Con bê nhà thằng Tám gãy chân, tao sờ một tiếng mới biết nó gãy chỗ nào. Rồi tao nẹp bằng hai thanh tre với băng keo cách điện.
– Nẹp tre mà lành không ông?
– Lành. Đi cà nhắc. Mà sống. – Ông Tư nói. – Sống mười hai năm, đẻ chín lứa.
Anh Hậu bật cười, rồi thôi cười, rồi nhìn ông Tư bằng cái nhìn của người vừa nghe một chuyện mà mình biết là thật.
Sáng Thứ Bảy, mười tám tháng Tư, Hoa Sứ vắng như Diếp nói. Thứ Bảy người ta ít đem chó mèo đi khám buổi sáng, phải tới chiều mới đông. Vy ở quầy lễ tân đang ăn bánh cuốn, thấy Diếp dắt một ông già đội nón cối vào thì suýt sặc. Chị Hân nghỉ. Ca ngày chỉ có một bác sĩ trẻ tên Phước đang ngồi trong phòng khám số một với một con mèo bị ve. Và anh Hậu, người mà khi Diếp nhắn hỏi "anh có rảnh dẫn ông em đi coi bệnh viện không" thì trả lời trong mười giây: "Rảnh. Ông có cái ống nghe đó hả?"
Cô dẫn ông Tư lên bằng xe buýt. Ông ngồi ở hàng ghế đầu, sát cửa sổ, nhìn ra đường suốt bốn mươi phút không nói một câu. Lúc xe chạy qua cầu, ông nghiêng người nhìn xuống dòng sông, nhìn mấy chiếc ghe chở cát, nhìn mấy tòa nhà kính ở bên kia sông lấp lánh trong nắng sớm. Có một lúc cô thấy môi ông mấp máy, như đếm cái gì đó.
– Ông đếm gì ông?
– Đếm cái cầu. – Ông nói. – Hồi đó có một cái. Giờ tao đếm ra bốn.
Ông không nói hồi đó là hồi nào.
Anh Hậu dẫn ông đi hết tầng trệt. Phòng khám. Phòng xét nghiệm, cái máy sinh hóa máu kêu ro ro, ông Tư dí mặt vào cái kính nhìn cái khay ống nghiệm xoay tròn. Phòng siêu âm, anh Hậu bật máy, lấy cái đầu dò áp lên bụng mình, cho ông coi cái gan của chính anh hiện trên màn hình đen trắng. Ông Tư nhìn cái gan của anh Hậu một lúc lâu.
– Gan mày to. – Ông nói. – Mày nhậu nhiều.
– Trời đất ơi. – Anh Hậu tắt máy, cười tới mức phải vịn vào cái bàn. – Ông coi siêu âm được hả ông?
– Không. Tao coi mặt mày.
Khu lưu chuồng ở phía sau. Ông Tư đi chậm dọc mấy dãy lồng inox, nhìn từng con. Con mèo truyền dịch. Con chó bị tiêu chảy. Rồi ông dừng lại trước lồng của con Bơ, con chó lai lông vàng mổ đóng đinh nội tủy hai tuần trước, giờ đã đứng dậy được, cái chân sau bên phải còn băng, nhưng đã chạm đất. Con Bơ thấy người lạ, vẫy đuôi.
– Con này gãy chân hả?
– Dạ, gãy xương đùi. – Diếp nói. – Mổ đóng đinh trong lòng xương, ông. Thêm một vòng chỉ thép chống xoay.
– Ai mổ?
– Dạ, chú Kha. Bác sĩ giám đốc chuyên môn ở đây.
Ông Tư không nói gì. Ông cúi xuống, thò ngón tay qua song lồng. Con Bơ liếm ngón tay ông. Cái ngón tay run, con chó liếm nó như liếm một con cá đang giãy.
– Mổ đẹp. – Ông Tư nói. – Nó đứng thẳng. Chân không lệch.
– Ông coi mà biết hả ông? – Anh Hậu hỏi.
– Coi cái cách nó đứng. – Ông Tư rút tay về. – Chân gãy mà nối lệch thì con vật nó đứng nghiêng qua bên kia, để đỡ cho cái chân đau. Con này đứng thẳng. Người mổ nó biết con chó đứng ra sao trước khi mổ.
Diếp nghe câu đó, và cô nhớ tới cái khoảng ngừng nhỏ ở đầu mỗi động tác của ông Kha trong phòng mổ. Cái lúc ông nhìn trước.
Họ lên tầng hai. Phòng mổ đóng cửa, không có ca. Anh Hậu mở cửa kính mờ cho ông Tư đứng ở ngưỡng cửa nhìn vào, không được bước vào vì không mặc đồ vô trùng. Ông Tư đứng đó, nhìn hai cái bàn mổ inox sáng loáng. Hai cái đèn mổ treo trên trần như hai cái mặt trời nhỏ, cái máy thở, cái tủ dụng cụ kính trong suốt, mấy khay kìm kéo xếp hàng ngay ngắn.
Ông đứng lâu tới mức anh Hậu phải ho một tiếng.
– Ông thấy sao ông?
– Sạch. – Ông Tư nói. – Sạch quá.
Ông quay đi. Lúc quay đi, Diếp thấy mặt ông. Cô không biết đặt tên cho cái vẻ mặt đó. Không phải buồn. Không phải vui. Nó giống cái mặt của ba cô cái buổi sáng ba khuấy ly cà phê ba vòng trước khi nói "ba bán rồi".
Ở cuối hành lang tầng hai có một cái cửa sổ lớn nhìn xuống con rạch. Ông Tư đi tới đó, đứng nhìn xuống. Nước rạch đục, lục bình trôi từng mảng, một chiếc xuồng nhỏ của ai đó buộc ở bến. Bên kia rạch là một dãy nhà lụp xụp, mái tôn, có phơi quần áo.
– Ông giám đốc ngồi phòng nào? – Ông hỏi, không quay lại.
– Dạ, tầng ba ông. – Anh Hậu nói. – Mà ổng đi hội thảo ngoài Vũng Tàu rồi. Tối mới về.
– Cho tao coi cái cửa.
Anh Hậu nhìn Diếp. Diếp nhìn xuống sàn.
– Dạ... cái cửa thôi hả ông?
– Ừ. Cái cửa.
Họ lên tầng ba. Hành lang tầng ba hẹp, yên tĩnh, có phòng kế toán, phòng nhân sự đều đóng cửa vì Thứ Bảy, và ở cuối hành lang là cái cửa gỗ không có bảng tên. Ông Tư đi tới, chậm, những bước ngắn kéo lê một chút trên nền gạch bóng. Diếp đi sau. Anh Hậu đứng lại ở đầu cầu thang, như người ta đứng lại ngoài cửa buồng khi biết trong buồng có chuyện không phải của mình.
Ông Tư đứng trước cái cửa gỗ.
Ông không gõ. Ông không vặn nắm cửa. Ông đưa bàn tay phải lên, cái bàn tay run, đặt lòng bàn tay lên mặt gỗ, ngay giữa cánh cửa, như người ta đặt tay lên bụng một con bò chửa để nghe con trong bụng nó cựa. Bàn tay ông run trên mặt gỗ. Ông để nó run. Ông không nắm cổ tay lại như mọi lần.
Diếp đứng sau lưng ông, cách ba bước. Cô nghe tim mình đập lên tận chỗ cái ống nghe trên ngực. Cô nhìn cái lưng ông Tư trong cái áo sơ mi màu cháo lòng, cái lưng còng xuống một chút từ hồi nào cô không để ý. Cô nghĩ tới tấm ảnh bạc màu trên kệ sách bên kia cánh cửa này. Cái đồi cát. Cái chuồng bò. Chiếc Cub cánh dè sơn xanh, vết móp hình lưỡi liềm.
Cô nghĩ tới chữ khắc dưới vành mặt nghe. Cho con, một chín chín hai.
Cô nghĩ tới cái đêm ông Kha mổ con Mực, cầm cái ống nghe này trong tay, ngón cái chạy qua mấy chữ khắc như người mù đọc chữ nổi. Ngồi trong xe hơi dưới bãi tới một giờ sáng. Sáng hôm sau tự mở tủ hồ sơ, quay ra hỏi anh Hậu con nhỏ này ở thôn nào, xã nào.
Cô nghĩ tới câu ông Tư nói hồi Tết, ở sân nhà, máy xe Cub còn nổ: mày đừng đem nó đi khoe.
Cô đã biết. Có lẽ cô đã biết từ cái hôm thấy tấm ảnh, có khi từ trước nữa. Cô chỉ không cho phép mình biết, như người ta không cho phép mình đếm số tiền còn lại trong ví khi chưa tới cuối tháng.
Ông Tư rút tay khỏi cánh cửa. Ông đứng đó thêm một lúc. Rồi ông quay lại.
– Về. – Ông nói.
Đúng lúc đó, dưới cầu thang có tiếng bước chân.
Không phải tiếng dép lê của Vy. Không phải tiếng giày thể thao của anh Phước. Tiếng giày da, đều, không nhanh không chậm, từng bậc một, cái nhịp mà Diếp đã nghe trên cầu thang này hai năm rưỡi nay, những đêm ca trực, những buổi sáng sớm. Cái nhịp của một người đi lên cầu thang mà như đang đếm bậc.
Anh Hậu ở đầu cầu thang quay phắt lại.
– Anh Kha? Anh về rồi hả? Em tưởng tối...
– Buổi chiều người ta hủy. – Giọng ông Kha, từ dưới vọng lên. – Diễn giả bị cảm. Anh về sớm, ghé lấy cái hồ sơ...
Ông bước lên bậc cuối cùng. Ông thấy anh Hậu. Rồi ông nhìn qua vai anh Hậu, dọc theo cái hành lang hẹp, tới cái cửa gỗ không có bảng tên ở cuối.
Ông đứng lại.
Ông Kha mặc áo sơ mi trắng, quần tây, tay cầm cái cặp táp, cái áo khoác vắt trên cánh tay. Tóc ông muối tiêu cắt ngắn. Mặt ông đỏ một chút vì nắng biển. Ông đứng ở đầu hành lang như một người đi trong đêm bất thần đụng phải một bức tường mà mình biết chắc là không có ở đó.
Ông Tư đứng ở cuối hành lang, trước cánh cửa gỗ, cái nón cối kẹp dưới nách, cánh tay phải thõng xuống bên hông, run.
Hành lang dài chừng mười mét. Hai người đứng ở hai đầu.
Diếp đứng ở giữa, hơi lệch về phía ông Tư. Anh Hậu đứng ở đầu cầu thang, sau lưng ông Kha, mặt không còn chút máu. Không ai nhúc nhích. Ở đâu đó trong tòa nhà, một cái máy lạnh nhỏ giọt nước xuống cái máng tôn, tách, tách, tách.
Cái cặp táp trong tay ông Kha từ từ trượt xuống. Ông không đánh rơi nó. Ông đặt nó xuống nền gạch, chậm, như đặt một con vật đang mê xuống bàn mổ. Rồi ông đứng thẳng lên.
Diếp nhìn mặt ông. Cô đã nhìn mặt ông trong phòng mổ, trong phòng làm việc, ở cái bồn rửa tay. Cô đã thấy ông nhìn cô bằng cái nhìn chậm, đọc lại một dòng chữ cho chắc là không đọc sai. Giờ cô thấy một cái nhìn khác. Một cái nhìn mà cô không biết gọi là gì, vì cô chưa thấy nó trên mặt một người đàn ông hơn năm mươi tuổi bao giờ. Cô chỉ thấy nó trên mặt mấy con cừu con mới đẻ, lúc nó lóp ngóp đứng dậy, nhìn quanh tìm con mẹ, và không chắc con mẹ có nhận nó hay không.
Ông Tư bước một bước. Rồi đứng lại.
Ông nhìn người đàn ông ở đầu kia hành lang, qua mười mét gạch bóng. Cái quai hàm ông nghiến lại, một sợi gân nổi lên dưới da cổ, như cái hôm ông không chích được mũi kháng sinh cho con bò nhà anh Lượng.
Rồi ông nói. Một chữ. Không to, không nhỏ. Cái giọng ông vẫn dùng để gọi người ta ra chuồng.
– Hai.
Ông Kha đứng im. Môi ông mấp máy, không ra tiếng. Rồi ra tiếng.
– Ba.
— Hết chương 18 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe