Chương 31: Mổ trên tấm bạt
Tấm bạt màu xanh dương, loại người ta dùng che lúa phơi, còn dính mấy hột lúa lép ở mép. Chị Hạnh lôi nó ra từ gầm nhà, hai tay run, rũ cát. Diếp trải nó lên nền đất ngay giữa chuồng, ngay dưới cái bóng đèn tròn treo trên kèo. Cô trải thêm hai cái khăn tắm sạch chị Hạnh đem ra, rồi một cái mền mỏng gấp làm tư để kê lưng con vật.
– Chú có đồ không chú?
– Trong xe. – Ông Kha nói. – Chú đi đâu cũng có một bộ.
Ông đi ra xe. Diếp gọi anh Sang. Mười giờ đêm, anh bắt máy ở hồi chuông đầu, nghe cô nói ba câu, rồi nói anh tới, anh mang theo thuốc tê, thuốc sát trùng, chỉ khâu, kháng sinh của trạm, mười lăm phút.
Ông Kha đi vào với một cái túi da đen cũ, mép sờn. Ông mở nó ra trên cái ghế đẩu chị Hạnh kê sát tấm bạt. Kéo, kẹp, dao mổ, kim cong, mấy gói khăn vô trùng, một cái đèn đội đầu. Ông nhìn quanh cái chuồng. Mái lá. Vách keo. Bóng đèn tròn vàng vọt. Hai chục con cừu khác chen nhau ở góc chuồng bên kia, ngăn bằng mấy tấm phên, mắt sáng lên trong bóng tối.
– Gọi ổng. – Ông nói.
Diếp nhìn ông.
– Ông bó bột chú.
– Ổng mổ cừu nhiều hơn chú. – Ông Kha nói. Ông không nhìn cô. Ông đang đeo cái đèn đội đầu, chỉnh sợi dây thun. – Chú mổ chó mèo hai mươi mấy năm. Cừu thì chú mổ được mấy con, hồi ở đây. Lâu rồi.
Rồi ông nói thêm, nhỏ hơn:
– Chú chở ổng.
Năm phút sau, chiếc xe hơi màu xám dừng ở đầu ngõ nhà chị Hạnh. Ông Kha đỡ ông Tư xuống. Ông Tư mặc cái áo sơ mi bỏ ngoài quần, cái tay trái bó bột đeo trên một cái khăn quàng cổ buộc làm dây treo. Tay phải ông cầm cây gậy bốn chân mà ông nói ông chưa tới cái tuổi xài. Trên trán ông cột một cái đèn pin bằng dây thun. Cái kiểu ông cột đèn pin lên trán đêm bão cát tháng Mười Một năm 2015.
Diếp nhìn cái đèn pin trên trán ông, và cô suýt khóc.
– Ông cột đèn làm gì ông? Ông đâu có mổ.
– Tao soi. – Ông Tư nói. – Đèn của thằng Hai chiếu xuống, đèn tao chiếu ngang. Mổ cừu ban đêm phải có hai cái đèn.
Chị Hạnh kéo cái ghế nhựa ra, đặt ở đầu tấm bạt. Ông Tư ngồi xuống, cây gậy bốn chân đặt bên cạnh. Ông nhìn con cừu cái đang nằm nghiêng, thở hổn hển, mắt đờ.
– Lứa đầu. Con lớn. Hai con. – Ông nói. – Mày sờ rồi hả?
– Dạ.
– Đầu nó không lọt chỗ nào?
– Kẹt ở vành xương chậu ông. Con sau nằm thuận.
Ông gật đầu.
– Lật nó nằm nghiêng phải. Mổ hông trái. – Ông nói. Ông không nói với ông Kha. Ông nói với không khí, như hồi xưa ông vẫn nói khi có hai người cùng làm một ca, người ta tự biết câu nào là của ai.
Anh Sang tới, ủng cao su, khẩu trang, cái thùng thuốc của trạm. Anh nhìn thấy ông Tư ngồi trên ghế nhựa, ông Kha đeo đèn đội đầu, Diếp quỳ trên tấm bạt. Anh không hỏi gì. Anh mở thùng thuốc, đưa thuốc tê, đưa chỉ, rồi cầm cái đèn pin thứ ba, đứng ở góc chuồng, soi.
Hai người đàn ông nhấc con cừu lên, lật nó nằm nghiêng phải trên tấm bạt. Diếp giữ đầu nó. Cô đặt cái mặt nghe lên ngực nó. Cái ống nghe khắc chữ, cái mà cô đeo từ tháng Chín.
– Tim nhanh, đều chú. Thở nông.
Ông Kha cạo lông một mảng ở hông trái. Sát trùng. Ông chích thuốc tê dọc theo đường sắp rạch, từng mũi, cách đều nhau như mấy hột nút trên áo. Ông đợi.
– Rạch dưới cái hõm hông một lóng tay. – Ông Tư nói. – Cừu da mỏng, cơ mỏng. Đừng rạch như rạch chó.
Ông Kha dừng lại một giây. Cái khoảng ngừng nhỏ ở đầu động tác, cái lúc ông nhìn trước. Lần này nó dài hơn một chút. Rồi ông dời mũi dao xuống thấp hơn một chút, đúng một lóng tay, và rạch.
Diếp đã đứng ở đầu bàn mổ của ông ở Hoa Sứ, dưới hai cái đèn mổ như hai cái mặt trời nhỏ, có máy theo dõi, có máy thở, có tủ dụng cụ kính trong suốt. Ở đây có một bóng đèn tròn, hai cái đèn pin, một cái đèn đội đầu, một tấm bạt che lúa. Có mùi phân cừu, mùi rơm, mùi thuốc sát trùng. Có tiếng hai chục con cừu khác thở trong bóng tối, tiếng gió nam thổi qua mái lá. Tay ông Kha vẫn vậy. Không nhanh. Chắc. Mỗi động tác một khoảng ngừng nhỏ.
Ông tách lớp cơ. Ông mở phúc mạc. Ông thò tay vào, nâng một phần tử cung lên tới miệng vết mổ. Nó căng, hồng, có hình một cái chân nhỏ in lên dưới lớp thành mỏng.
– Rạch chỗ cong lớn. – Ông Tư nói. – Né mấy cái nút nhau. Rạch dài ra một chút, con lớn.
Ông Kha rạch. Một cái chân nhỏ lòi ra. Ông nắm lấy hai chân sau, kéo. Con cừu con tuột ra trong một dòng nước ối ấm, to, ướt, im lìm.
– Diếp.
Cô đã sẵn sàng. Cô đỡ lấy nó bằng hai tay, nhấc ngược lên, đầu chúc xuống, lắc nhẹ cho nước trong mũi họng chảy ra. Cô đặt nó xuống cái khăn, lấy cọng rơm khô ngoáy mũi, chà ngực nó bằng nắm khăn.
Một giây. Hai giây. Ba.
Nó hắt hơi. Rồi nó kêu.
Ông Kha đã lấy con thứ hai, nhỏ hơn, cái cổ ngoẹo sang một bên. Anh Sang đỡ lấy nó, làm y như Diếp. Nó kêu ngay, cái tiếng nhỏ như mèo con.
Hai con cừu con nằm trên tấm bạt, một con trắng đốm đen, một con xám. Diếp lấy cái khăn mỏng quấn quanh con lớn. Một vạt khăn đè lên vai, một vạt luồn dưới bụng, vặn một cái ở cuối, cho nó cảm thấy như đang nằm sát hông mẹ. Con cừu con thôi run.
Ông Kha nhìn xuống. Cái đèn đội đầu của ông chiếu thẳng vào cái khăn quấn.
– Cái kiểu quấn đó. – Ông nói.
– Dạ. Kiểu bế cừu non.
– Chú biết. – Ông nói. – Chú biết cái kiểu đó từ hồi chú mười tuổi. Hồi tháng Chín chú coi lại camera ba lần. Chú không dám nghĩ.
Ông Tư ngồi trên ghế nhựa, cái đèn pin trên trán chiếu ngang xuống tấm bạt.
– Quấn vậy là đúng. – Ông Tư nói. – Tao dạy nó. Tao dạy mày trước.
Ông Kha không trả lời. Ông quay lại với vết mổ. Ông lau sạch tử cung, kiểm tra không còn con thứ ba, kiểm tra nhau. Ông lấy cái kim cong, xỏ chỉ.
– Khâu tử cung hai lớp. – Ông Tư nói. – Lớp hai lộn vô, đừng để chỉ lòi ra ngoài thành, dính ruột. Mày nhớ không, hồi đó con dê nhà bà Sáu Mít...
– Con nhớ, ba.
Hai chữ đó rơi xuống tấm bạt nhẹ như một cọng rơm. Con nhớ. Ba. Không có chữ tôi nào. Không có cái nắp đậy hơi chật nào. Chỉ là cái giọng của một người đàn ông năm mươi ba tuổi đang khâu tử cung một con cừu dưới bóng đèn tròn, nói với người đang ngồi bên cạnh.
Diếp không ngẩng lên. Anh Sang ở góc chuồng không ngẩng lên. Chị Hạnh đứng ở cửa chuồng, ôm hai cánh tay, không hiểu gì, chỉ thấy con cừu của mình còn thở.
Ông Tư ngồi im. Cái đèn pin trên trán ông chiếu ngang xuống tay người con trai. Cái tay phải trên đùi ông run. Ông không nắm nó lại.
– Ừ. – Ông nói. – Vậy khâu đi.
Ông Kha khâu. Lớp một, lớp hai, lộn vô. Rồi phúc mạc. Rồi cơ. Rồi da. Mỗi mũi một khoảng ngừng nhỏ. Hai giờ sáng, mũi cuối cùng. Anh Sang chích kháng sinh cho con cừu mẹ. Diếp nghe tim nó lần cuối.
– Tim đều chú. Chậm lại rồi.
Họ đỡ con cừu mẹ dậy. Nó đứng được, chân run, quay đầu lại, thấy hai con nhỏ trên tấm bạt, và nó kêu lên một tiếng khàn khàn. Hai con nhỏ lóp ngóp đứng dậy, ngã, lại đứng, rúc vào bụng mẹ tìm vú.
Chị Hạnh ngồi bệt xuống cửa chuồng, khóc.
Ba giờ sáng, mọi người đã rửa tay, thay đồ, nhúng dép vào thùng nước sát trùng anh Sang để ở cửa. Anh Sang về trước. Chị Hạnh pha một bình trà, đem ra cái bàn tre trước hiên, rồi vào ngủ với hai đứa con. Diếp, ông Kha, ông Tư ngồi lại dưới hiên. Trời vẫn đầy sao. Gió đã dịu hẳn. Đâu đó trong thôn có tiếng gà gáy sớm.
Ông Tư với tay lấy cái ấm trà. Cái tay phải. Run.
Ông Kha cầm lấy cái ấm trước.
Diếp nhìn. Ông Tư không bao giờ để ai rót trà cho ông. Từ hồi cô còn nhỏ, ông không chịu, ông nói tay ông còn rót được thì tay ông rót. Hôm Tết ông rót đổ ra cả bàn mà vẫn không để má cô rót.
Ông Tư nhìn cái ấm trong tay người con trai. Ông rút tay về, đặt nó lên đùi.
Ông Kha rót. Một chén cho ông Tư. Một chén cho Diếp. Một chén cho mình. Nước trà chảy thẳng xuống chén, không đổ giọt nào.
Ông Tư nâng chén trà bằng tay phải, chậm, uống một ngụm. Rồi ông nói, mắt nhìn ra sân:
– Năm chín tám, mày mổ con dê nhà bà Sáu Mít trên cái chiếu. Ca đầu tiên của mày. Mày rạch sâu quá, tao la mày.
– Ba la con trước mặt cả nhà người ta. – Ông Kha nói. – Bà Sáu Mít cho con một rổ mít mà không dám nhìn con.
– Ừ. – Ông Tư nói. – Bữa nay tao không la.
– Bữa nay ba la rồi. – Ông Kha nói. – Ba nói đừng rạch như rạch chó.
Ông Tư quay qua nhìn người con trai. Rồi ông cười. Tiếng cười khàn, ngắn, bật ra như cái máy xe Cub nổ, hụt hơi ở cuối. Diếp chưa bao giờ nghe ông Tư cười thành tiếng. Mười bốn năm, cô chưa nghe lần nào.
Không ai nói gì. Ba người ngồi uống trà, nhìn ra cái sân cát trắng mờ dưới sao, nghe tiếng hai con cừu con trong chuồng kêu be be đòi bú.
Sáu giờ sáng, ông Kha chở ông Tư về. Diếp đi bộ theo sau, ra nhà ông ở đầu thôn lấy thêm thuốc sát trùng cho chuồng chị Hạnh, đôi mắt cay xè, hai cánh tay mỏi tới vai. Trời phía biển đã hửng hồng. Gió sớm mát. Con đường đất đi ngang cái giếng có từ thời ông nội ông Tư.
Ở đầu thôn, cạnh cái giếng, có một người đứng.
Áo thun xám. Quần jean. Đôi dép quai hậu cũ. Một cái ba lô to trên vai, cái ba lô người ta mang đi xa nhiều ngày. Tóc dựng một chùm sau gáy, chỗ người ta ngủ gục trên ghế xe khách cả đêm. Tay cầm một tờ giấy, gấp dở.
Người đó thấy cô từ xa, và đứng thẳng lên.
Lãm.
— Hết chương 31 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe