Chương 17: Ông già trên chuyến xe đêm
Ông Tư bước xuống xe khách ở bến xe Miền Đông lúc năm giờ mười lăm sáng Thứ Ba, mười bốn tháng Tư, tay trái xách một bịch nho đỏ, tay phải xách một cái giỏ tre. Trong cái giỏ tre có một con gà mái mơ đang thò đầu ra kêu cục cục.
– Ông ơi! Sao ông đem gà lên?
– Gà nhà nuôi. Cho mày ăn.
– Con ở trọ mà ông! Con làm sao giết gà?
– Mày đỡ đẻ được con bò mà không giết được con gà?
Diếp cầm lấy cái giỏ. Con gà nhìn cô bằng một con mắt tròn vo như hạt tiêu. Mấy người đứng đón khách gần đó quay lại nhìn, có bà cười, có ông lắc đầu. Ông Tư không để ý. Ông đứng giữa bến xe, đội cái nón cối, mặc cái áo sơ mi đẹp nhất của ông, cái áo màu cháo lòng có túi ngực cài nút, quần tây ống rộng, đôi dép nhựa. Ông nhìn quanh, cái bến xe mới mênh mông, mái cao, đèn sáng trưng, mấy cái màn hình to treo trên cột.
– Rộng quá. – Ông nói. – Hồi tao đi, bến xe nhỏ bằng cái sân nhà mày.
– Ông vô Sài Gòn hồi nào ông?
– Lâu rồi. – Ông nói, rồi đi, không đợi cô.
Cô xin nghỉ thực tập một ngày. Chị Thủy nhân sự ký giấy, hỏi người nhà bệnh hả em, cô nói dạ, ông con. Chị Thủy không hỏi ông nội hay ông ngoại.
Bệnh viện thần kinh nằm ở trung tâm thành phố, một khu nhà nhiều tầng, sân trước đã đầy người từ sáu giờ sáng. Người ngồi trên băng ghế, người ngồi bệt dưới đất, người đứng xếp hàng, cầm trên tay những xấp giấy tờ, những phim chụp, những bịch thuốc. Diếp để con gà ở nhà trọ, nhờ bà Năm Lựu coi giùm. Bà Năm nhìn con gà, nói gà mơ ngon, nói để bà nấu cháo, Diếp nói đừng bà ơi, ông con đem lên. Bà Năm cười.
Họ chờ bốn tiếng. Ông Tư ngồi trên cái ghế inox, hai tay đặt trên đùi, nhìn người ta đi qua đi lại. Tay phải ông run, đều, như có ai lắc cổ tay ông từ bên trong. Tay trái ông nắm lấy cổ tay phải, giữ, nhưng không giữ được lâu, rồi buông, rồi lại nắm. Một đứa con nít ngồi gần đó nhìn chằm chằm vào cái tay. Ông Tư nhìn lại đứa con nít, nheo một mắt, rồi lấy trong túi ra một trái nho đỏ đưa cho nó. Đứa con nít cầm lấy, ăn, rồi không nhìn cái tay nữa.
Mười giờ rưỡi, tới lượt.
Bác sĩ là một người phụ nữ chừng bốn mươi lăm, đeo kính gọng mỏng, nói giọng Bắc nhẹ, chậm rãi. Chị đọc giấy giới thiệu của bác sĩ ở Phan Rang, hỏi ông những câu mà Diếp đoán được trước. Run từ bao giờ, run lúc nghỉ hay lúc làm, có cứng người không, có đi chậm không, có ngã lần nào chưa, ngủ có hay mơ không, có ngửi được mùi không.
– Mùi thì tôi ngửi được. – Ông Tư nói. – Mùi chuồng bò tôi ngửi cách hai cây số.
Bác sĩ cười.
– Bác làm nghề gì ạ?
– Thú y.
– Ồ. – Chị nhìn Diếp. – Còn cháu?
– Dạ, con cũng học thú y. Năm cuối.
– Hai ông cháu cùng nghề. – Chị gật gù. – Vậy bác cho cháu xem, bác đứng lên, đi tới cửa rồi đi lại đây giúp cháu.
Ông Tư đứng dậy. Ông đi tới cửa. Diếp nhìn ông đi, và lần đầu tiên cô thấy cái mà mấy tháng nay cô không để ý. Ông đi chậm. Những bước chân ngắn, kéo lê một chút, cánh tay phải không đung đưa theo bước như cánh tay trái mà cứ thõng xuống bên hông, cứng. Lúc quay lại ở cửa, ông phải đứng lại, xoay người từng chút một, như một cái xe bò quay đầu trên đường hẹp.
Bác sĩ khám thêm. Chị cầm tay ông, gập duỗi khuỷu tay, cổ tay. Chị bảo ông gõ ngón cái với ngón trỏ vào nhau thật nhanh, ông gõ, nhanh lúc đầu rồi chậm dần, rồi nhỏ dần, như con lắc hết dây cót. Chị bảo ông viết tên mình lên một tờ giấy. Ông viết. Chữ "Dậu" ông viết bắt đầu to, cuối nhỏ xíu, co lại như con sâu.
Chị đặt cây bút xuống, nhìn ông.
– Bác ạ, theo những gì cháu khám, bác bị bệnh Parkinson. Cháu sẽ cho bác làm thêm vài xét nghiệm để loại trừ những nguyên nhân khác, nhưng các dấu hiệu khá rõ.
Ông Tư ngồi im. Diếp ngồi bên cạnh, tay bấu vào quai ba lô.
– Bệnh này chưa chữa khỏi được, bác ạ. – Bác sĩ nói, chậm, rõ. – Nhưng có thuốc giúp giảm run, giảm cứng, giúp bác đi lại dễ hơn. Uống đều thì nhiều người sinh hoạt bình thường được rất nhiều năm. Bác cần tập vận động hằng ngày, đi bộ, tập tay. Cẩn thận khi đi xe máy. Ba tháng tái khám một lần, có thể khám ở Phan Rang, cháu ghi hướng dẫn cho bác sĩ bên đó.
– Chạy xe máy được không bác sĩ?
– Hiện giờ bác vẫn có thể, nhưng phải cẩn thận, không đi đêm, không đi đường xấu. Về sau thì...
– Ừ. – Ông Tư nói. – Tôi hiểu.
– Bác có câu hỏi gì không ạ?
Ông Tư suy nghĩ một chút.
– Bệnh này có lây cho bò không?
Bác sĩ khựng lại một giây, rồi bật cười, cười thật.
– Dạ không bác. Không lây cho ai hết.
– Vậy được. – Ông Tư nói. – Vậy là có tên. Tôi run một năm nay mà không biết gọi nó là gì.
Họ ra khỏi bệnh viện lúc một giờ chiều, một bịch thuốc, một xấp giấy hẹn xét nghiệm Thứ Năm. Ông Tư đi trước, chậm, những bước ngắn. Diếp đi sau, mắt nhìn cánh tay phải của ông thõng xuống bên hông.
– Ông. – Cô nói. – Ông có buồn không?
– Buồn gì. – Ông nói, không quay lại. – Bảy mươi sáu tuổi rồi, có bệnh là chuyện thường. Con bò mười tuổi còn đau chân.
– Ông...
– Mày đừng nói ba má mày. – Ông dừng lại ở cổng bệnh viện, quay lại nhìn cô. – Cả cái xã cũng đừng nói. Tao còn chích được ít bữa. Người ta biết tao bệnh là người ta không kêu tao nữa.
– Ông không chích được nữa rồi ông. Hồi Tết...
– Thì tao kêu người ta chích. Tao đứng chỉ. – Ông nói. – Mà tao phải có mặt. Người ta tin cái mặt tao, không phải tin cái tay tao. Mày hiểu không?
Cô không trả lời. Cô gật đầu.
Ông ở trọ với cô sáu đêm. Chanh nhất định nhường cái nệm cho ông, hai đứa con gái trải chiếu nằm dưới đất. Ông không chịu, ông nói ông nằm chiếu quen rồi, nệm êm quá ông đau lưng. Cuối cùng ông nằm chiếu, sát cửa, cái nón cối úp lên bụng, và ngáy to tới mức con Ki của bà Năm ngoài hành lang sủa lên hai lần.
Con gà mái mơ thì không ai nỡ giết. Bà Năm Lựu nhận nuôi, nhốt trong cái lồng tre cạnh cửa phòng bà. Sáng hôm sau, nó đẻ một quả trứng.
Ông Tư làm Chanh mê trong đúng một buổi tối Thứ Tư. Ông hỏi Chanh học gì, Chanh nói thú y, ông hỏi giỏi môn nào, Chanh nói môn gì cũng dở. Ông nói vậy thì giỏi cái gì? Chanh nói con giỏi tắm chó. Ông nói vậy thì tắm cho tao coi. Chanh đi mượn con Ki của bà Năm. Con Ki dữ nhất hẻm. Chanh tắm cho nó trong cái thau nhôm ngoài sân thượng, mười lăm phút, con Ki đứng im như tượng. Ông Tư ngồi trên cái ghế nhựa, xem không chớp mắt.
– Con nhỏ này tay mềm. – Ông nói với Diếp. – Mềm hơn tay mày.
Chanh đỏ mặt, cười tới mức làm đổ cái thau nước.
Tối Thứ Năm, Tửng tới. Nó ngồi với ông Tư tới mười một giờ đêm trên sân thượng, nói chuyện heo. Ông Tư hỏi nó cái dịch năm 2019 ở chỗ nó, hỏi kỹ từng ngày, từng chuồng, từng cách trạm thú y người ta khoanh vùng, tiêu hủy, sát trùng. Tửng trả lời hết. Diếp ngồi ở góc nghe, thấy ông Tư gật gù, thấy ông hỏi những câu mà cô chưa từng nghe ông hỏi ai. Những câu về thời gian, về khoảng cách giữa các chuồng, về chuyện người dân giấu bệnh vì sợ mất trắng.
– Giấu là chết cả xóm. – Ông Tư nói. – Mà không giấu thì chết một nhà. Người ta chọn chết một nhà khi người ta tin là có ai đó sẽ đỡ cho nhà đó. Không tin thì người ta giấu.
Tửng ngồi im một lúc, rồi nói:
– Dạ, hồi đó ba con không giấu. Ba con gọi trạm liền. Ba con nói ba con nhớ ông thú y ở xã ba con hồi xưa dặn: thấy heo bệnh lạ là phải báo.
– Ông thú y đó còn sống không?
– Dạ chết rồi ông. Hồi con học lớp ba.
Ông Tư gật đầu, không nói gì nữa.
Đêm đó, sau khi Tửng về, ông ngồi trên chiếu, nhìn tấm bản đồ vẽ tay trên vách dưới ánh đèn ngủ. Diếp tưởng ông đã ngủ. Cô nằm nghiêng, nhìn ông nhìn tấm bản đồ.
– Cái này thằng nào vẽ?
– Dạ bạn con, ông. Thằng Lãm.
– Nó tới Bàu Sạn rồi hả?
– Dạ chưa. Nó vẽ theo lời con kể.
Ông Tư nhìn tấm bản đồ lâu hơn nữa. Ông giơ tay lên, cái tay phải run run, chỉ vào cái đồi cát. Rồi ngón tay ông trượt sang phía bên trái tấm bản đồ, phía tây, chỗ con đường đất đỏ đi về thôn bên, chỗ chiếc xe Cub nhỏ xíu có cánh dè sơn xanh.
– Nó vẽ thiếu. – Ông nói.
– Thiếu gì ông?
Ngón tay ông dừng ở một khoảng trống, giữa con đường đất đỏ và mép giấy, chỗ Lãm không vẽ gì, chỉ tô một lớp màu vàng nhạt cho có.
Ông im một lúc. Rồi ông rút tay về.
– Thiếu cái giếng ở đầu thôn. – Ông nói. – Cái giếng đó có từ thời ông nội tao.
Rồi ông nằm xuống, úp cái nón cối lên bụng, quay mặt vào tường.
Diếp nằm nhìn cái khoảng trống ở phía tây tấm bản đồ. Cái giếng đầu thôn nằm ở phía đông, gần nhà ông Tư, cô biết rõ, cô đã kể cho Lãm, và Lãm đã vẽ nó, một cái vòng tròn nhỏ có ghi chú "giếng ông nội ông Tư". Nó nằm ở góc trên bên phải. Ngón tay ông không chỉ vào chỗ đó.
Sáng Thứ Sáu, khi kết quả xét nghiệm hôm trước đã có và bác sĩ nói không có gì khác, ông nói:
– Cho tao coi chỗ mày làm cái coi.
Diếp đang buộc dây giày. Tay cô dừng lại.
– Dạ... chỗ con thực tập hả ông?
– Ừ. Cái bệnh viện chó mèo đó. Tao muốn coi người ta chữa chó mèo mà người ta xây nhà ba tầng là sao.
Cô nghĩ tới tấm ảnh trên kệ sách phòng ông Kha. Cái chuồng bò. Cái đồi cát. Cái cánh dè sơn xanh, vết móp hình lưỡi liềm. Cô đã không nói với ai chuyện tấm ảnh. Cô đã tự nói với mình rằng xe Cub thì ai mà chẳng có. Cô đã không hỏi ông Tư năm nào ông tông vào cột điện.
– Ông, bệnh viện đó tên Hoa Sứ.
– Ừ. Mày nói rồi.
– Ông... ông có biết ai ở đó không ông?
Ông Tư nhìn cô. Cái nhìn từ trên xuống dưới, như ông nhìn một con bò để đoán nó bệnh hay không.
– Tao biết mày. – Ông nói. – Đủ chưa?
Cô cúi xuống buộc nốt dây giày. Hôm qua ở phòng giao ban, chị Hân có nói anh Kha đi hội thảo ngoài Vũng Tàu, Thứ Sáu với Thứ Bảy, tối Thứ Bảy mới về. Cô nghe câu đó, và cô nhớ nó, và giờ cô biết mình nhớ nó để làm gì.
– Dạ. – Cô nói. – Thứ Bảy con dẫn ông đi. Thứ Bảy bệnh viện vắng.
— Hết chương 17 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe