Chương 20: Thuốc của ông
– Con gà đó để lại cho bà Năm. – Ông Tư nói, chân đã đặt lên bậc xe. – Nó đẻ mỗi sáng một trứng. Mày ăn trứng, đừng ăn gà.
Sáu giờ sáng Thứ Hai, hai mươi tháng Tư, bến xe Miền Đông đã ồn như cái chợ. Chiếc xe khách về Phan Rang nổ máy chờ, khói dầu bốc lên khét lẹt. Ông Tư xách cái giỏ tre không, bịch thuốc nhét trong túi áo ngực, cái nón cối trên đầu. Diếp cầm thêm cho ông một bịch bánh mì với hai hộp sữa đậu nành.
– Ông uống thuốc đúng giờ nghen ông. Sáng một viên, chiều một viên.
– Tao biết đọc.
– Tháng Bảy tái khám ở Phan Rang. Ông đừng quên.
– Ừ.
Phụ xe la "lên lẹ ông ơi". Ông Tư leo lên bậc thứ hai, rồi dừng, quay lại. Ông nhìn cô từ trên xuống, như nhìn một con bò để đoán nó bệnh hay không.
– Mày đi làm đi. – Ông nói. – Nó không làm gì mày đâu. Nó không phải người vậy.
Rồi ông vào trong. Qua ô kính, cô thấy ông ngồi xuống hàng ghế thứ ba, đặt cái giỏ tre lên đùi, nhìn thẳng ra trước, không nhìn ra cửa sổ. Xe chạy. Cô đứng đó cho tới khi không còn thấy cái nón cối nữa.
Tối Thứ Ba, Diếp kể.
Bốn đứa ngồi ở quán chè đầu hẻm, cái bàn nhựa đỏ hồi tháng Chín: cô, Chanh, Tửng, Lãm. Cô kể chuyện cái hành lang tầng ba, hai chữ "Hai" với "Ba". Cô kể chuyện cái ống nghe khắc chữ. Cô kể chuyện năm 1999, ngắn thôi, không kể hết, vì có những chỗ cô thấy mình không có quyền kể. Cô không kể chuyện bệnh của ông.
Tửng nghe xong thì ngồi há miệng, cái muỗng chè dừng giữa chừng.
– Trời đất. – Nó nói. – Vậy cái ông giám đốc mổ đẹp nhất phía đông thành phố là con ông thú y đi Cub?
– Ừ.
– Vậy cái chỗ ông Tư giữ cho mày, – Chanh nói, chậm, – với cái chỗ ổng giữ cho mày ở bệnh viện, là của hai cha con?
– Tao không biết, Chanh. Tao không biết ông Tư giữ chỗ gì.
Lãm không nói gì. Anh lấy cái biên lai của quán chè trên bàn, gấp. Bốn cái chân. Cái đầu. Nghiêng. Anh đặt con cừu giấy xuống cạnh ly chè của Diếp.
– Ông Tư còn chuyện gì chưa kể bà không? – Anh hỏi.
– Ông hỏi gì kỳ vậy?
– Tại người ta giấu một chuyện hai mươi bảy năm, thì người ta giấu được thêm mấy chuyện nữa. – Lãm nói. – Tui chỉ hỏi.
Diếp nhìn con cừu giấy. Cô nghĩ tới ngón tay run run của ông Tư trượt sang phía tây tấm bản đồ, dừng ở cái khoảng trống tô màu vàng nhạt. Thiếu cái giếng ở đầu thôn. Cái giếng nằm ở phía đông.
– Tui không biết. – Cô nói.
Ở Hoa Sứ, ông Kha không nhắc tới chuyện Thứ Bảy. Không một chữ.
Tuần đó Diếp vẫn ở khu nội trú. Cô gặp ông hai lần ở hành lang, lần nào ông cũng gật đầu với cô, như hồi cô mới vào làm phụ tá, cái gật đầu của giám đốc chuyên môn với một người làm công. Ông không gọi cô lên phòng. Ông không hỏi ông Tư về tới chưa, uống thuốc chưa. Có một buổi chiều, ông xuống khu nội trú xem con Bơ trước khi cho nó xuất viện. Ông khám chân nó, xem phim, ký giấy, dặn chủ nó tái khám sau bốn tuần. Diếp đứng cạnh, cầm hồ sơ. Ông không nhìn cô lần nào.
– Ổng giận em hả anh? – Cô hỏi anh Hậu, tối Thứ Sáu, giữa hai ca.
Anh Hậu đang ăn hộp cơm gà, gắp một miếng da gà để riêng ra mép hộp.
– Ổng không giận. – Anh nói. – Ổng làm vậy với ai ổng sợ.
– Ổng sợ em?
– Ổng sợ cái em biết. – Anh Hậu đậy nắp hộp cơm. – Từ hồi ổng mở cái bệnh viện này, đây là lần đầu có người ở đây biết ổng là con ai.
Thứ Hai hai mươi bảy tháng Tư, Diếp chuyển sang khu ngoại khoa. Khu cuối cùng. Ba tuần cuối. Khu của ông Kha.
Ông dạy cô như dạy bất cứ thực tập sinh nào. Đúng giờ, đúng việc. Ông cho cô khâu da sau một ca triệt sản mèo, đứng nhìn từng mũi, sửa một mũi cô thắt hơi chặt. Ông cho cô rửa và băng một vết thương bị chó cắn ở cổ một con mèo hoang mà một sinh viên ôm tới. Ông hỏi cô câu hỏi, cô trả lời, ông nói "đúng" hoặc "chưa đủ". Cái nhìn chậm, đọc lại một dòng chữ cho chắc là không đọc sai, cô không thấy nữa. Ông nhìn cô như nhìn một trang hồ sơ.
Nhưng có một lần. Thứ Năm tuần thứ hai, ông mổ một con chó già bị khối u ở lá lách. Diếp gây mê, theo dõi. Ca mổ dài, khó, mất máu. Tới lúc ông khâu lớp cơ, tim con chó chậm dần trên màn hình. Diếp không nhìn màn hình. Cô cúi xuống, đặt mặt nghe của ông Tư lên ngực con chó, nghe.
– Tim yếu, nhưng đều chú. Không loạn.
Ông Kha gật đầu, tay không ngừng. Rồi ông nói, mắt vẫn nhìn vết mổ:
– Màng nghe ổng thay đúng loại.
Đó là câu duy nhất ông nói về ông Tư trong ba tuần.
Mỗi tối Chủ nhật Diếp gọi về cho ông Tư. Ông bắt máy ở hồi chuông thứ năm, thứ sáu, sớm hơn trước. Ông không hỏi gì về Hoa Sứ. Cô cũng không kể.
– Ông uống thuốc đều không ông?
– Đều.
– Tay ông sao rồi ông?
Ông im một chút, như đang nhìn cái tay mình.
– Bớt. – Ông nói. – Thuốc tụi bây hay. Hôm qua tao rót trà không đổ giọt nào.
– Ông còn đi chích không ông?
– Tao đi. Thằng Tín chích, tao đứng chỉ. Nó chích heo quen, chích bò cứ chích chỗ mỡ. Tao la nó suốt. – Ông khịt mũi. – Nó cũng biết nghe.
– Ông đừng chạy xe đêm nghen ông. Bác sĩ dặn rồi.
– Ừ.
Cô không biết chữ "ừ" đó có nghĩa là có hay không.
Hết tuần thứ mười hai, chiều Thứ Sáu, mười lăm tháng Năm, bốn thực tập sinh nộp báo cáo ca bệnh và bản tự đánh giá. Diếp viết báo cáo về con Lu, con chó parvo của cậu thợ hồ. Nó sống. Cậu thợ hồ trả nợ ba lần, lần cuối hồi đầu tháng Năm, đem tới thêm một bịch trái mận. Tiên viết về một ca mèo kháng thuốc. Quân và Định viết chung về một ca chó gãy chân trước.
Ông Kha nhận bốn bản báo cáo ở phòng giao ban, không đọc liền, đặt lên bàn.
– Cảm ơn bốn em. Chú đọc rồi chú gửi nhận xét về trường. – Ông nói. – Còn chuyện tuyển. Chú đã nói hồi đầu đợt là chú mời một người. Chú đọc xong sẽ nói chuyện riêng với từng em.
Tiên ngồi thẳng. Diếp thấy hai bàn tay Tiên đặt trên đùi, nắm chặt lại.
Lúc mọi người ra về, ông Kha gọi Diếp lại một chút ở cửa phòng giao ban. Ông không nhìn cô mà nhìn cái bảng trắng còn ghi lịch mổ tuần sau.
– Thư mời của em, chú vẫn để đó. – Ông nói. – Hạn vẫn là tháng Bảy.
– Dạ.
Ông gật đầu, đi lên lầu.
Mấy tuần đó, có một chuyện Diếp không kể với ai, kể cả Chanh.
Thứ Hai, Thứ Tư, Thứ Sáu nào không trực, năm giờ chiều Lãm đứng ở trạm xe buýt đầu đường, dưới cây dầu. Anh không nhắn trước. Anh chỉ đứng đó, ngồi trên cái xe máy, như tình cờ. Cô ngồi lên sau xe anh, và hai đứa đi đâu đó, không xa. Quán bún riêu ở một con hẻm gần chợ, ba mươi lăm nghìn một tô, bà chủ cho thêm rau mà không cần hỏi. Cái ghế đá dưới cây dầu sau giảng đường C, lúc trường vắng. Bờ sông, chỗ có mấy cái ghế nhựa của một quán nước mía, nhìn ra mấy chiếc tàu chở cát chạy chậm.
Hai đứa không nói chuyện học bổng. Không nói chuyện tháng Bảy. Không nói chuyện tháng Tám. Hai đứa nói chuyện con chó già bị u lá lách, chuyện cái vắc-xin chịu nhiệt của thầy Phùng vừa đạt một thí nghiệm mới. Chuyện cô Linh mới học xài điện thoại để bán cám chim trên mạng mà cứ chụp hình bao cám bị ngược. Có hôm không nói gì hết. Chỉ ngồi. Tay anh đặt lên tay cô trên mặt ghế đá, hay trên cái bàn nhựa của quán nước mía, không siết, chỉ để vậy. Thích nhau vậy thôi, như hai đứa đã hẹn.
Cô không kể với Chanh, vì cô không biết kể sao. Kể rằng tụi tao thích nhau mà không ai được xin ai cái gì? Chanh sẽ nói đó là cái kiểu thích của hai đứa khờ.
Tối Thứ Bảy mười sáu tháng Năm, sau ngày cuối thực tập, Lãm chở cô về tới đầu hẻm lúc mười giờ. Đèn đường ở đầu hẻm bị hư một bóng, chỉ còn một bóng vàng vọt. Cô leo xuống xe, trả nón. Anh không nổ máy đi liền. Anh nắm lấy cổ tay cô, kéo nhẹ, và cô đứng lại, sát bên cái xe, dưới cái bóng đèn vàng. Không ai nói gì. Anh chỉ nắm cổ tay cô như vậy, ngón cái đặt lên chỗ mạch đập, như người ta bắt mạch cho một con vật để coi nó có sợ không.
– Hai đứa bây tưởng tao mù hả?
Diếp giật tay lại nhanh tới mức cái nón bảo hiểm trên tay Lãm rớt xuống đất, lăn một vòng.
Chanh đứng ở trên cái bậc thềm xi măng của nhà đầu hẻm, cái chỗ mái hiên đêm ngập. Nó cầm một bịch bánh tráng nướng, tóc kẹp con cua, mặc cái áo thun ngủ in hình trái dưa hấu.
– Tao đi mua bánh tráng. – Nó nói. – Tao đứng đây năm phút rồi. Hai đứa bây không thấy tao. Một con người đứng sờ sờ dưới đèn đường mà hai đứa bây không thấy.
– Chanh...
– Mấy tuần rồi?
Diếp không trả lời. Lãm lượm cái nón lên, phủi phủi.
– Sáu tuần. – Anh nói.
– Sáu tuần! – Chanh bước xuống bậc thềm. – Sáu tuần mày đi về trễ, mày nói mày đi thư viện. Thư viện nào mở cửa tới mười giờ đêm? Mày tưởng tao không biết đếm hả?
Rồi nó dừng lại trước mặt Diếp, nhìn cô. Cái mặt nó không giận. Nó cười, cái cười mà Diếp đã không thấy trên mặt nó từ cái đêm ở công an phường.
– Trời đất ơi. – Chanh nói. – Ba năm rưỡi. Ba năm rưỡi tao ngồi coi hai đứa bây liếc nhau như hai con gà chọi. Cuối cùng.
Rồi nó quay qua Lãm, chỉ cái bịch bánh tráng vào mặt anh.
– Ông mà làm nó khóc, tao xách ông lên sân thượng thả xuống.
– Tui biết.
– Biết thì về đi. Mười giờ rồi.
Lãm nhìn Diếp. Cô gật đầu. Anh nổ máy đi. Chanh khoác tay Diếp, kéo cô vào hẻm, vừa đi vừa xé bịch bánh tráng.
– Mày ngu thiệt. – Nó nói. – Có vậy mà giấu tao.
– Tao không biết nói sao.
– Thì nói là tao thích nó, nó thích tao. Có gì đâu mà khó. – Chanh bẻ một miếng bánh tráng, đưa cô. Rồi nó im một lúc, nhai. Cái giọng nó đổi đi, nhỏ lại. – Mà tháng Tám nó đi rồi đó Diếp.
– Tao biết.
– Mày biết rồi mày còn...
– Ừ. Tao biết rồi tao còn.
Chanh không nói gì nữa. Hai đứa đi vào dãy trọ. Con gà mái mơ của ông Tư trong cái lồng tre cạnh cửa phòng bà Năm đã ngủ, đầu rúc vào cánh.
Ba ngày sau, tối Thứ Ba, mười chín tháng Năm, Diếp đang làm ca phụ tá. Chín giờ rưỡi tối, không có ca. Cô ngồi ở quầy trực, viết nốt chương cuối khóa luận. Điện thoại trong túi áo rung. Không phải tin nhắn. Là cuộc gọi.
Lãm.
Lãm không bao giờ gọi. Năm năm, anh nhắn, anh gửi hình, anh gửi con cừu giấy chụp trên một cái bàn nào đó. Anh không gọi, vì anh nói anh nói chuyện qua điện thoại dở, không thấy mặt người ta thì không biết người ta đang nghĩ gì.
Cô bắt máy.
Đầu dây im. Cô nghe tiếng thở của anh, nhanh, như người vừa chạy lên cầu thang. Cô nghe tiếng con chào mào trong tiệm cô Linh hót một tiếng, giờ này mà nó còn hót. Cô nghe tiếng cô Linh ở đâu đó phía sau, nói cái gì đó, giọng cao lên, không ra chữ.
– Lãm?
– Diếp Cá. – Anh nói. Giọng anh run. – Tui đậu rồi.
— Hết chương 20 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe