Chương 6: Ống nghe áp cột
– Mày nhìn cái bể như nhìn mả bố mày ấy, con ngược ạ.
Bông nói câu ấy lúc hai người đang giũ chiếu ngoài hiên sáng mười bốn, nói bâng quơ, tay vẫn đập cái chiếu cói vào cột cho bụi bay. Chị không biết mình vừa nói gì. Không ai trong lầu này biết.
Vơi buông đầu chiếu. Cái chiếu rơi xuống nền gạch, cuộn lại một nửa.
– Chị nói lại xem.
– Thì tao nói thế. – Bông nhíu mày. – Ba hôm nay mày cứ cắm mặt xuống cái gian bể, sáng cọ, trưa xuống, chiều xuống. Bà già bảo mày kéo gấp đôi thì mày kéo, không cãi một câu. Mày biết cái gì về con Hạnh mà mày không nói, đúng không?
– Em không biết gì về Hạnh.
– Mày nói dối. – Bông ném cái chiếu của mình xuống, đứng chống nạnh. – Hôm trước mày cãi thằng Quế ra rả, trăng với chả bóng tường. Giờ hỏi đến con Hạnh thì mày im như thóc. Tao không ngu. Mày sợ cái gì?
– Em sợ chị.
– Sợ tao?
– Sợ chị nói to quá. – Vơi nhặt chiếu lên. – Cả cái sân này đang nghe chị.
Bông khựng lại, quay đầu. Ở góc sân, Tiểu Lư đang lau đèn lồng, mắt dán vào cái đèn mà tay thì không động đậy. Ở cửa sổ gian đông, cánh cửa buồng Bà Diêm khép hờ.
Bông cúi xuống nhặt cái chiếu, hạ giọng, nhưng vẫn đanh:
– Thì mày nói nhỏ.
Hai người mang chiếu ra phơi ở dãy sào sau lầu, chỗ bức tường kho củi che khuất. Nắng tháng Chín hanh hao, mùi cỏ khô và mùi hoa cúc từ vườn Ngự uyển bên kia tường thoảng sang. Vơi trải chiếu lên sào, chậm rãi, cân nhắc từng chữ trước khi nói.
– Đêm Trùng cửu, Hạnh không đi về bằng cửa lầu. Hạnh xuống gian bể, rồi trèo ra bằng bậc sắt trong lòng giếng Lậu. Em thấy dấu guốc. Đất xanh dính guốc là đất ở mép bể.
Bông đứng im. Bàn tay chị nắm mép chiếu, nắm chặt đến mức cói kêu sột soạt.
– Nó xuống đấy làm gì?
– Em không biết. – Vơi nói thật. – Nhưng Hạnh hỏi em canh ba có đánh sớm không. Hạnh biết trước một cái gì đó, chị ạ. Biết trước, nên mới xuống xem.
– Ai bảo nó?
– Em không biết.
Bông buông mép chiếu. Chị ngồi xuống bậc đá chân tường, hai tay ôm gối, nhìn ra cái sân nhỏ đầy lá ngô đồng.
– Dạo này nó lạ lắm. – Chị nói sau một lúc. – Từ tháng Bảy. Hay đi đêm, bảo là Quý phi sai đi việc. Có tiền. Tháng trước nó gửi về nhà ba quan, tao hỏi đâu ra, nó bảo được thưởng. Lan Chi thưởng cung nữ tạp dịch ba quan à? Có lần nó khoe tao một cây trâm bạc đuôi phượng, đẹp lắm, rồi giấu ngay, bảo đừng nói ai. – Bông nhổ một cọng cỏ mọc ở kẽ đá, xoắn nó trong ngón tay. – Nó bảo tao: chị ơi, em sắp được ra cung sớm. Em sẽ về làng trước chị. Tao tưởng nó nói đùa.
– Hạnh có nói ai hứa cho nó ra sớm không?
– Không. Tao hỏi thì nó cười. – Bông ném cọng cỏ đi. – Nó cứ cười suốt. Cái con ấy, chết đến nơi vẫn cười.
Hai người ngồi im. Một con sẻ sà xuống sân, mổ mổ cái gì giữa đám lá rồi bay đi.
– Cuối năm nay tao được thả. – Bông nói, giọng đổi khác hẳn, mềm như bột. – Đủ hai mươi lăm. Giấy thả đề ngày mười sáu tháng Một, sáng hôm ấy ra Cửa Củi là đi luôn. Ngoài Cửa Củi có thằng Lực, phu khuân rau, người làng tao. Nó chờ tao chín năm rồi. Bảo tao ra là cưới. Nó dành dụm được hai con lợn với một gian nhà tranh. – Chị cười, lần đầu tiên từ hôm Hạnh chết. – Tao với con Hạnh hẹn nhau, đứa nào ra trước thì nhóm bếp trước, đứa ra sau sang ăn chực.
Vơi nhìn chị. Hai năm nay, nàng chỉ biết Bông qua những câu chửi. Nàng không biết chị có một người chờ ngoài Cửa Củi, có hai con lợn và một gian nhà tranh.
– Em sẽ không làm gì để chị mất cái giấy ấy. – Nàng nói.
Bông quay sang, nhìn nàng như nhìn một đứa dở hơi.
– Ai bảo mày làm gì? Mày làm cái gì thì mày nói tao biết trước. – Chị đứng dậy, phủi mông. – Thế thôi. Còn chuyện dấu guốc, tao không nghe thấy gì cả.
Đêm mười bốn là đêm nghỉ của Vơi. Ở lầu Giọt, cứ dăm đêm cung nữ được nghỉ trọn một đêm, ngủ một mạch tới sáng. Bà Diêm ngồi ca đầu, Tiểu Lư được cho tập ngồi ca sau. Bông và Tín thay nhau trên gian trống. Lão Quách ngủ ở góc gian trống như mọi khi, chờ người gọi dậy đánh canh.
Vơi nằm ở gian tây, mắt mở trong bóng tối.
Nàng chờ trống canh tư. Chờ tiếng chân Bà Diêm đi xuống. Chờ cánh cửa buồng đông đóng lại. Đêm nay bà không khóc. Chỉ có tiếng giọt nước từ trên gian bình vọng xuống qua sàn gỗ, và tiếng ngáy khò khè rất khẽ của bà, như tiếng gió thổi qua ống sậy.
Nàng ngồi dậy, khoác áo, cầm cái đèn nhỏ chưa thắp, đi chân đất qua gian giữa.
Cầu thang xuống gian bể có bảy bậc. Nàng bước qua bậc thứ năm, đặt chân thẳng từ bậc tư xuống bậc sáu. Dưới gian bể tối đặc, lạnh như trong lòng một cái hang. Nàng thắp đèn, khum tay che ngọn lửa, đặt nó xuống nền đá ở góc xa nhất, chỗ ánh sáng không hắt lên được lỗ kéo.
Rồi nàng rút ống nghe ra.
Gian bể có bốn cây cột cắm từ nền đá lên, bốn góc, đỡ cả tòa lầu. Nàng đi tới cột góc tây nam trước. Áp đầu vát của ống vào thân gỗ, ghé tai. Im. Chỉ có tiếng gỗ lim già, cái tiếng trầm trầm, rất xa, của một thân cây đã chết từ trăm năm mà vẫn còn chịu sức nặng. Nàng sang cột tây bắc, cạnh cái cửa thông giếng. Im. Cột đông nam. Im.
Cột Cấn.
Nàng áp ống vào thân cột ngang ngực mình. Ghé tai.
Ban đầu chỉ có cái im quen thuộc của gỗ. Rồi, rất mỏng, rất xa, như tiếng một sợi chỉ nước chảy qua một khe đá ở tận đâu đó trên núi, nàng nghe thấy nó. Nước. Nước đang chảy trong ruột cây cột. Không phải nhỏ giọt. Là chảy, một dòng nhỏ, liền, chầm chậm, như hơi thở của người đang ngủ.
Vơi hạ ống xuống thấp dần. Ngang bụng. Ngang đầu gối. Tiếng nước to dần. Ngang bắp chân thì nàng nghe nó rõ như nghe tiếng mình thở. Nàng lấy đốt ngón tay gõ nhẹ lên thân cột. Cốc. Cốc. Ở trên cao, tiếng gõ đặc. Ở dưới thấp, gần chân cột, tiếng gõ rỗng như gõ vào cái thùng.
Nhưng mặt cột phía trước thì liền một khối, sơn đỏ đã bong vảy, không có khe, không có vết đục.
Nàng đi vòng ra sau cột.
Cột Cấn đứng sát góc tường đông bắc. Giữa thân cột và hai mặt tường chỉ còn một cái khe hẹp, rộng chừng một bàn tay xòe, tối om, đầy mạng nhện. Không ai cọ được trong ấy, không ai nhìn được vào ấy. Hai năm cọ bể, nàng chưa bao giờ nghĩ đến nó. Vơi nằm áp má xuống nền đá ướt, đưa ngọn đèn vào sát khe.
Ở mặt sau của cây cột, ngay chỗ tiếng gõ nghe rỗng, có một tấm ván.
Nó dài chừng hai gang, rộng một gang, sơn cùng màu đỏ sẫm với thân cột, lớp sơn cũng bong vảy như thế, khéo đến mức nhìn qua chỉ thấy gỗ liền gỗ. Chỉ có một đường viền mảnh như sợi tóc chạy quanh bốn cạnh. Và ở hai góc trên, hai cái chốt gỗ tròn đóng sâu vào, đầu chốt được đẽo bằng với mặt ván rồi sơn đè lên.
Vơi rút cây trâm gỗ trên tóc, lách đầu trâm vào đường viền ấy. Nàng nạy rất chậm, rất nhẹ, như người ta gỡ vảy cho một con cá còn sống. Tấm ván nhích ra một chút, rồi một chút nữa. Hai cái chốt gỗ không đóng chết vào thân cột. Chúng chỉ cắm vào hai cái lỗ, giữ cho tấm ván khỏi rơi. Ai có cái tay quen thì chỉ cần một cái lẫy là mở.
Tấm ván rời ra trong tay nàng.
Sau nó là một cái hốc khoét vào lòng cột, sâu chừng một gang tay. Trong hốc có một khối gỗ vuông, nhỏ bằng nắm tay, gỗ nghiến đen bóng vì ẩm. Từ đầu trên khối gỗ, hai cái ống tre bọc đồng chạy thẳng lên, nằm sát nhau, mất hút trong lòng cột. Từ đầu dưới, một cái ống khác cũng bọc đồng chạy xuống, chui qua nền đá, đi về phía bể. Trên mặt khối gỗ có hai cái nút gỗ tròn cắm vào hai cái lỗ, đầu nút có tai vặn như cái chuôi chìa khóa.
Vơi đưa ngọn đèn lại gần.
Trên tai vặn của mỗi nút, có ba khía hình chữ V. Nhỏ, đều, xếp liền nhau. Cái giữa sâu hơn hai cái bên.
Nàng không biết mình đã quỳ ở đó bao lâu.
Nàng không chạm vào hai cái nút. Nàng không dám. Nàng chỉ nhìn. Hai cái ống trên chạy lên, lên tới đâu? Lên tới gian bình, nơi Nhật bình đứng sát góc đông bắc, cái chỗ mà hôm trước nàng áp ống nghe và nghe thấy dưới đáy một tiếng như tiếng thở. Và bình Thụ đứng ngay dưới chân nó. Nước từ trên cao chạy xuống tận đây, rồi lại theo ống kia dâng lên. Như cái ống tre uốn chữ U cha nàng hay làm để dẫn nước vượt qua một con mương: đầu nguồn cao hơn thì nước đi xuống bên này, dâng lên bên kia. Còn cái ống dưới chạy xuống bể là để tháo đi. Một nút cho nước vào. Một nút cho nước ra. Như cái van ở đầu máng ruộng bậc thang quê nàng.
Cái nút phía trên còn ướt. Không phải ướt vì hơi nước trong hốc. Ướt như vừa có ai đó cầm vào bằng bàn tay ẩm.
Nàng nhớ lại lá thư. Chỉ còn nuôi nốt một con rắn trong cột là cha về.
Cha ơi, nàng nghĩ, mà không biết mình đang nghĩ thành lời hay chỉ là một cái gì đó nghẹn trong ngực. Cha làm cái này cho ai? Cha có biết người ta sẽ dùng nó để làm gì không?
Và người ta có giết cha vì cha biết không?
Nàng đưa tay sờ lên ba cái khía. Gỗ nghiến lạnh, nhẵn, cạnh khía còn sắc dưới đầu ngón tay. Bàn tay cha đã cầm con dao nhỏ khắc ba cái khía này, như đã khắc trên cán dao rựa, trên ống máng, trên cái ống nghe nàng đang cầm. Ở cái chỗ tối nhất, sâu nhất, kín nhất của cái lầu này, ông vẫn để lại dấu tay mình. Như thể ông biết một ngày nào đó sẽ có người tìm đến.
Vơi lắp tấm ván vào. Ấn hai cái chốt về chỗ cũ, lấy đầu ngón tay miết cho đường viền khép lại. Nàng lấy vạt áo lau mấy vết tay mình trên lớp sơn. Rồi nàng bò ra khỏi khe, đứng dậy, chân tê rần vì quỳ lâu trên đá.
Đúng lúc ấy, trên đầu nàng, bậc thứ năm của cầu thang kêu lên một tiếng.
Cọt kẹt.
Có người đang đi xuống.
— Hết chương 6 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe