Chương 4: Đất sét xanh
Sáng mười một, chiếc xe bò chở Hạnh đi ra Cửa Củi lúc trời còn mờ sương. Không kèn, không trống, chỉ có tiếng bánh xe nghiến trên đường gạch và Bông đi lẽo đẽo phía sau, tay cầm cái bọc áo nhỏ. Cung nữ chết trong cung thì đưa ra nghĩa địa cung nhân ngoài cửa tây, chôn trong ngày, hòm đồ để lại chờ người nhà lên nhận. Em gái Hạnh ở tận làng Vạn Ninh, nhắn tin đi về cũng phải nửa tháng.
Vơi đứng trên gian trống nhìn theo cho tới khi chiếc xe khuất sau mái kho củi. Rồi nàng xuống gian bể.
Hôm qua cả lầu nhốn nháo, nàng bỏ dở việc cọ bể, chưa kịp nhìn kỹ. Sáng nay nàng mang theo hai ngọn đèn, đặt một ngọn ở đầu cầu thang, một ngọn trên nắp bể, rồi quỳ xuống nền đá.
Nền gian bể lát đá xanh, khe đá trám vữa. Quanh mép bể lúc nào cũng có một lớp bùn sét mỏng, do nước tràn và do người làm việc giẫm lên, sáng nào cũng phải lau mà chiều lại có. Sáng hôm kia nàng lau rồi, sáng qua mới cọ được thành bể thì có chuyện, nền chưa kịp lau. Vậy là những dấu chân trên nền này, nếu còn, là dấu của đêm Trùng cửu và một ngày hôm qua.
Dấu của nàng thì nàng biết: đôi dép cỏ đế bằng, mũi tròn, đi khắp nơi. Dấu của Tiểu Lư và lão Quách cũng dễ nhận, hai đôi hài vải của thái giám, một đôi to bè kéo lê, một đôi nhỏ nhảy cóc. Nàng lần theo chúng, loại dần.
Còn lại hai thứ.
Thứ thứ nhất nằm ở góc tây bắc, gần cái cửa gỗ thấp thông sang lòng giếng Lậu. Hai vạch song song ngắn, cách nhau ba đốt ngón tay, in lõm vào lớp sét, cái trước cái sau. Không phải dép, không phải hài. Là răng guốc gỗ. Guốc của cung nữ các cung có hai răng ngang dưới đế, đi trên gạch kêu lộc cộc. Người lầu Giọt không ai đi guốc xuống gian bể, vì đá ướt trơn, mà Bà Diêm cấm.
Vơi đặt bàn tay mình cạnh dấu guốc. Nhỏ hơn bàn tay nàng một chút. Dấu chân của một người con gái nhỏ người.
Những vệt răng guốc ấy đi từ chân cầu thang, men theo mép bể phía tây, rồi dừng ở cái cửa thông giếng. Không có dấu nào quay lại cầu thang.
Nàng mở cái cửa gỗ. Lòng giếng Lậu tối và ẩm, mùi rêu xộc vào mũi. Nước giếng sâu bên dưới, lấp loáng ánh đèn. Dọc thành giếng, những bậc sắt cắm vào đá chạy thẳng lên trên, nối tới miệng giếng ngoài sân, nơi có cái nắp tre đậy hờ. Thợ sửa giếng dùng lối này. Nàng cũng từng trèo lên trèo xuống mấy lần khi dây gàu bị kẹt.
Vơi soi đèn lên bậc sắt thứ nhất. Trên mặt sắt gỉ có một vệt sét xanh, như ai đó đặt bàn chân dính bùn lên rồi trượt đi.
Hạnh không đi xuống cầu thang rồi đi lên lại. Hạnh đi xuống, rồi trèo ra bằng lòng giếng. Một cung nữ đi đưa bánh, đang sợ về trễ cửa khóa, lại chọn trèo bậc sắt ướt trong lòng giếng tối thay vì đi cầu thang. Chỉ có một lý do cho việc ấy: Hạnh không muốn ai trong lầu thấy mình đi ra. Hoặc không dám.
Còn thứ thứ hai.
Nó nằm ở góc đông bắc, ngay chỗ nàng nhặt được mẩu dăm tre. Một dấu hài, to hơn hài thái giám lầu Giọt, đế mỏng, mũi nhọn, kiểu hài đế da của người có chức. Chỉ có một dấu nguyên, nửa gót in sâu vào bùn, mấy dấu khác bị chà xóa đi như có người lấy giẻ quệt qua. Người ấy đã đứng lâu ở đây, đứng sát cái cột lớn, đủ lâu để gót chân lún xuống.
Vơi ngồi xổm, nhìn cái cột.
Cột góc đông bắc là cây cột lớn nhất của lầu Chính Thời, gỗ lim nguyên khúc, đường kính hơn một vòng tay, đâm từ nền đá gian bể lên tận xà gian trống. Người trong lầu gọi nó là cột Cấn, theo hướng bát quái. Nó sơn đỏ sẫm, lớp sơn cũ đã bong vảy ở chân. Nàng nhìn nó đã hai năm, mỗi sáng cọ bể đều cọ cả chân nó. Nó chỉ là một cây cột.
Nàng đưa tay sờ lên thân cột.
– Mày làm cái gì đấy?
Vơi giật bắn người. Bà Diêm đứng ở bậc thứ ba của cầu thang, một tay cầm đèn, đầu nghiêng nghiêng như mọi lần bà nhìn người. Không biết bà đứng đó từ lúc nào. Bậc thứ năm không kêu.
– Bẩm, nô tì lau bùn.
– Lau bùn mà quỳ đo chân người ta như thầy bói đo mả. – Bà bước xuống, chậm, từng bậc. Đến bậc thứ năm, gỗ cọt kẹt một tiếng. Bà đi tới chỗ dấu hài, cúi xuống, rồi đưa bàn chân mình di qua dấu ấy, một lần, hai lần, cho tới khi nó chỉ còn là một vệt bùn nhòe. – Lau đi.
Vơi không nhúc nhích.
– Tao bảo lau đi.
Nàng cầm giẻ lên, lau. Lau dấu hài, rồi lau dấu guốc, rồi lau vệt sét xanh trên bậc sắt đầu tiên trong lòng giếng. Bà Diêm đứng nhìn cho tới khi nền đá chỉ còn ướt và trơn như mọi buổi sáng.
– Hôm nay mày kéo gấp đôi. – Bà nói. – Ba mươi hai thùng ca sáng, ba mươi hai thùng ca đầu. Kéo cho hết sức, xong việc thì ngủ cho ngon, đừng nghĩ gì nữa.
– Dạ.
Bà quay đi, lên được hai bậc thì dừng lại. Không quay đầu.
– Lầu này bốn tầng, con bé ngược. – Bà nói. – Ngã từ tầng nào cũng chết.
Cả ngày hôm ấy Vơi kéo nước.
Ba mươi hai thùng không phải chuyện đùa. Đến thùng thứ hai mươi thì hai bắp tay nàng run lên như dây đàn, vòng dây quấn cổ tay trái hằn thành một lằn đỏ tím. Nhưng nàng thấy dễ chịu. Kéo nước thì không phải nghĩ, chỉ có nhịp: hai tay níu, hông ngả, bước lùi, buông một nấc, níu tiếp. Ròng rọc trên đầu kêu ken két, đều như tiếng nhịp chày giã gạo. Giữa những nhịp ấy, nàng nhớ lại lá thư.
Lá thư cuối cùng cha gửi về Thượng Nguyên đến vào tháng Mười một năm ấy, một tháng trước khi ông mất. Cha nàng không biết chữ. Ông nhờ một thư lại ở Công bộ viết hộ, trả hai tiền một lá, nên lá thư ngắn, chữ viết đẹp mà giọng thì đúng là giọng ông. Vơi thuộc lòng nó, như thuộc một bài hát.
"Con Vơi. Cha ở kinh vẫn khỏe, ăn được, ngủ được. Cái lầu cha sửa là cái lầu biết nói giờ, cả kinh thành nghe nó mà thức mà ngủ. Bà Chưởng khắc ở đây mắt kém mà tai thính, nghe nước rơi biết giờ như con nghe tiếng suối biết nước lên. Cha nể bà ấy. Việc sắp xong rồi. Chỉ còn nuôi nốt một con rắn trong cột là cha về. Tết này cha mua cho con cái lược sừng. Ở nhà nhớ đóng cửa chuồng gà."
Hồi đó Vơi đọc câu "nuôi một con rắn trong cột" và bật cười. Cha nàng gọi cái gì cuộn tròn cũng là rắn. Cái ống tre uốn quanh gốc cọn nước là con rắn. Đoạn máng vòng qua tảng đá là con rắn. Có lần ông nối một đường ống cuộn ba vòng quanh thân cây chò để hứng nước đầu nguồn cho cả bản, rồi đứng chống nạnh nhìn, bảo: con rắn này nó sẽ nuôi cả bản ba đời. Nàng tưởng ông chỉ nói đùa về một đoạn ống cong. Ông không về. Không có lược sừng. Không có Tết.
Gần ba năm qua, nàng chưa bao giờ nghĩ lại câu ấy. Hôm nay, mỗi lần ròng rọc kêu, nó lại trở về. Một con rắn trong cột.
Hết ca đầu, Vơi ăn nửa bát cơm nguội rồi lăn ra ngủ như chết. Đến trống canh tư, nàng dậy đọc thẻ, hai tay vẫn còn run khi cầm cái đèn soi lên vạch khắc.
Sáng mười hai, sau khi cọ bể, nàng lên gian bình.
Giờ ấy không có ai. Tiểu Lư đi lĩnh dầu đèn, lão Quách ngủ bù, Bông và Tín giặt áo ngoài giếng. Bà Diêm ra Khâm thiên giám nộp sổ tháng. Vơi đứng trước bình Thụ, nhìn cái thẻ tre cắm trên phao.
Nàng đã nghĩ suốt đêm. Canh ba sớm, canh năm đúng. Nếu ai đó muốn làm trống đánh sớm, cách dễ nhất là gì? Là đổi thẻ. Đêm dài ngắn theo mùa, nên lầu Chính Thời có hai mươi tư cái thẻ tiễn, mỗi tiết khí thay một cái. Thẻ mùa hè vạch canh xếp sát, thẻ mùa đông vạch canh xếp thưa. Lấy thẻ của một tiết khác cắm vào là trống lệch ngay, không cần ai đụng đến nước. Rồi trước canh năm lén cắm thẻ cũ trở lại.
Nàng xuống tầng đất, mở cái giá gỗ cất thẻ cũ ở gian giữa. Hai mươi tư cái rãnh lót vải, hai mươi ba cái thẻ, mỗi cái có thẻ gỗ nhỏ treo tên tiết: Lập xuân, Vũ thủy, Kinh trập, cho tới Đại hàn. Rãnh Hàn lộ trống, vì thẻ Hàn lộ đang ở trên bình Thụ. Nàng lấy thẻ Thu phân và thẻ Sương giáng, hai tiết đứng liền trước và liền sau, mang lên gian bình.
Nàng đặt từng cái cạnh thẻ Hàn lộ, so từng vạch. Thẻ Thu phân vạch canh ba thấp hơn thẻ Hàn lộ một chút. Thẻ Sương giáng thì cao hơn một chút. Chênh nhau chừng nửa điểm, không hơn. Không thẻ nào trong mùa này lệch được tới gần nửa canh. Muốn lệch gần nửa canh phải lấy thẻ mùa hè, mà thẻ mùa hè thì vạch xếp sát như răng lược, người đọc thẻ nhìn qua là biết.
Vơi lật thẻ Hàn lộ đang cắm trên phao lên xem mặt sau. Ở chân thẻ có vết nước ăn sẫm màu, ngang vạch thứ tám, đúng chỗ thẻ chạm mặt nước những đêm đầu tháng này. Một vết chỉ có ở cái thẻ đã nằm trong bình gần nửa tháng nay. Không ai đổi nó.
Nàng cất hai cái thẻ kia về giá, đặt từng cái đúng vào rãnh của nó, kéo tấm vải phủ lại như cũ.
Rồi nàng đi lên gian bình lần nữa, rút cái ống nghe trong vạt áo ra, áp vào thành bình Thụ.
Tách. Tách. Tách.
Sáng nay tiếng giọt đều, thưa, đúng cái nhịp hai năm nay nàng vẫn nghe. Không dày hơn, không thưa hơn. Như chưa từng có đêm Trùng cửu.
Vơi áp cái ống lần lượt lên Tinh bình, Nguyệt bình, rồi Nhật bình. Ở Nhật bình, nước vừa được đổ đầy sáng nay, tiếng bên trong trầm và sâu như tiếng vọng trong lòng một cái hang. Nàng nhắm mắt nghe rất lâu. Nghe tiếng nước rỉ qua vòi đồng sang Nguyệt bình. Nghe tiếng nước vỗ nhè nhẹ vào thành bình mỗi khi có gió lùa làm lầu rung khẽ.
Và dưới đáy, nàng nghe một cái gì đó khác. Một tiếng rất nhỏ, như tiếng thở, như tiếng gió lùa qua một cái lỗ không có gió.
Nàng mở mắt ra. Cái bệ gỗ kê bộ bình, Nhật bình đứng ở bậc cao nhất, sát vào góc đông bắc của gian bình. Ngay sau lưng nó, cây cột Cấn sơn đỏ sẫm chạy thẳng lên mái, và chạy thẳng xuống, qua tầng đất, qua sàn, xuống tận gian bể nơi có một dấu hài đế da vừa bị chà mất.
Vơi cất ống nghe vào áo, đứng lặng giữa gian bình đầy nắng.
Không ai đổi thẻ. Thứ đã chạy nhanh đêm Trùng cửu không phải cái que tre. Là nước. Và nước, ở cái lầu này, chỉ đi theo đường mà người ta làm cho nó đi.
— Hết chương 4 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe