Chương 24: Người không được đánh trống
Thầy thuốc của Nội vụ phủ bắt mạch cho lão Quách xong thì lắc đầu, bảo phong thấp nhập vào gân, người già hay thế, gió bấc về là phát. Ông ta kê một thang thuốc sắc, dặn kiêng gió, kiêng nước lạnh, kiêng cầm vật nặng, nằm nghỉ một tháng.
– Một tháng? – Lão Quách ngồi trên chiếu, hai bàn tay úp lên đầu gối cho khỏi run. – Thế ai đánh trống?
Thầy thuốc không trả lời. Ông ta không cần trả lời. Trưa hai mươi tám, Văn Sĩ Trác đến kiểm nhật quỹ, đứng giữa sân, tuyên bố trước cả lầu: lão Quách cáo bệnh, việc đánh trống giao cho Lư Phúc, đã theo học lão hai năm, tay chân nhanh nhẹn. Từ nay đến khi lão khỏi, mọi canh đều do Lư Phúc đánh.
– Cả đêm Đông chí? – Bông hỏi, không giấu được giọng gắt.
Văn Sĩ Trác quay sang chị, mỉm cười.
– Đêm Đông chí là đêm trọng. Ta tự ngồi coi lầu. Ta gọi, nó đánh. Một người gọi, một người đánh, như lệ. Có gì sai?
Không ai nói gì. Tiểu Lư đứng ở cuối hàng, mặt đỏ lên, không biết vì mừng hay vì sợ.
Chiều hôm ấy, khi lão Quách ngủ thiếp đi vì thuốc, Vơi lấy gói trà búp núi Tây Bình còn lại một nửa trong cái hũ sành ở góc gian trống. Nàng gói nó vào một mảnh giẻ, cất vào đáy hòm gỗ của mình, cạnh hai túi bạc. Bông thấy, nhưng không hỏi. Chị chỉ nói, rất nhỏ:
– Cả lầu nhấp có một ngụm. Lão uống cả nửa gói.
– Em biết.
– Mày nghĩ là thuốc à?
– Em không biết. – Vơi nói. – Em chỉ biết nó làm tê lưỡi.
Đêm ấy nàng không ngủ được. Nàng nằm nghe Tiểu Lư đánh trống canh hai, canh ba. Thằng bé đánh nhanh, mạnh, đúng nhịp, nhưng cái tiếng trống không giống tiếng lão Quách. Nó như tiếng một người nói to cho người khác sợ. Ba tiếng dài, dừng, một hồi dồn. Lần nào cũng gọn ghẽ. Đêm Đông chí, khi Văn Sĩ Trác gọi canh năm theo cái thẻ đã chạy trước một canh, thằng bé sẽ nện ba hồi khai môn gọn ghẽ như thế. Không ai bảo nó dừng. Lão Quách nằm ở góc gian trống, tay run không cầm nổi dùi. Mà dù lão có cầm nổi, Văn Sĩ Trác mới là người gọi.
Đêm mười sáu tháng Chín, lão Quách đã nói: người đọc thẻ đêm nay là con Vơi, con Vơi chưa gọi, lão không đánh. Đêm ấy, có lẽ Văn Sĩ Trác đã nghe Tiểu Lư kể lại câu ấy. Một ông già cứng đầu, chỉ đánh theo người gọi, mà người gọi lại có thể là một đứa xem trăng. Có lẽ thế là đủ để người ta biếu ông già một gói trà.
Sáng hai mươi chín, khi trống khai môn đã dứt, khi nàng đã gánh hai thùng nước suối về, Vơi lên gian trống ngồi cạnh lão Quách.
Lão đã dậy, ngồi dựa lưng vào cột, chăn đắp ngang bụng. Mặt lão hốc hác hơn hôm qua. Hai bàn tay vẫn run, nhưng ít hơn. Lão đang nhìn cái trống lớn, nhìn rất lâu, như người ta nhìn một con trâu già mình đã cày cùng ba mươi năm vừa bị dắt sang cho nhà khác.
– Ông. – Nàng nói to vào tai lão. – Cháu muốn học trống.
Lão Quách quay sang. Lão nhìn nàng như nhìn một đứa điên.
– Cháu nói cái gì?
– Cháu muốn học trống. Trống biến.
Lão Quách im rất lâu. Rồi lão lắc đầu, chậm, nhiều lần.
– Không được. Đàn bà không được đánh trống lầu. Xưa nay chưa có. Lão mà dạy cháu thì lão phạm lệ. Cháu mà đánh thì cháu mất đầu.
– Cháu biết.
– Biết mà còn xin?
Vơi nhìn quanh. Bông đang ở dưới tầng đất. Tín đi lĩnh dầu. Tiểu Lư ngủ bù sau đêm đánh trống. Gian trống chỉ có hai người và gió.
– Ông ơi. – Nàng nói, ghé sát tai lão. – Đêm Đông chí, trống canh năm sẽ đánh sớm một canh.
Lão Quách không động đậy.
– Có người đổ thêm nước cho thẻ chạy nhanh. – Nàng nói tiếp. – Ông Trác sẽ gọi theo thẻ. Thằng Lư sẽ đánh theo tiếng gọi. Cổng sẽ mở lúc trời mới sang canh tư. Có người chờ ngoài Cửa Củi để vào. Đêm ấy có thể phải có người đánh trống biến. Thằng Lư sẽ không đánh. Ông thì không cầm được dùi.
Lão Quách nhìn nàng. Đôi mắt lão, đôi mắt già nua, đục, có những tia máu đỏ, nhìn nàng rất lâu, không chớp.
– Cháu nói thật?
– Cháu nói thật.
– Cháu lấy gì mà biết?
– Trăng. – Vơi nói. – Với lại cháu nghe.
Lão Quách quay đi, nhìn cái trống. Lão nhìn nó thêm một lúc rất lâu. Rồi lão hít mũi một cái, gõ gõ hai bàn tay run run lên đầu gối.
– Thầy lão dạy lão trên mặt chiếu. – Lão nói, giọng hạ thấp hẳn, thấp đến mức Vơi phải ghé tai sát mới nghe. – Cuộn cái chiếu lại cho chặt, buộc lạt, đặt dựng lên như cái trống. Lấy cái chày giã gạo bọc vải dày mà đánh. Không ra tiếng, chỉ ra nhịp. Tập cho tới khi tay nhớ, đến lúc nằm mơ tay vẫn tự đánh.
Vơi gật đầu.
– Chiều nay. – Lão nói. – Lúc thằng Lư ngủ. Gọi con Bông canh cửa.
Chiều hai mươi chín, ở gian tây tầng đất, Bông cuộn ba cái chiếu cói lại làm một, buộc chặt bằng lạt tre, dựng nó đứng tựa vào vách như một cái thân cây. Vơi bọc hai cái chày giã gạo bằng giẻ, quấn mấy lớp, buộc chỉ. Lão Quách ngồi trên cái đôn, chăn quấn quanh vai, tay run run chỉ.
– Đứng xa ra một chút. Chân trái trước. Không phải, trái. – Lão gõ cái gậy tre vào bắp chân nàng. – Trống biến không giống trống canh. Trống canh thì ba tiếng dài, dừng, rồi dồn, như người đi rồi chạy. Trống biến thì không dừng. Chín tiếng, đều nhau, nặng như nhau, như chín bước chân người chạy đi báo giặc. Hết chín tiếng thì thở một hơi. Rồi chín tiếng nữa. Rồi chín tiếng nữa. Ba hồi. Hai mươi bảy tiếng. Thiếu một tiếng là không phải trống biến. Thừa một tiếng cũng không phải.
Vơi đánh.
Cái chày bọc vải đập vào cuộn chiếu, bịch, bịch, bịch, không ra tiếng trống, chỉ ra một thứ tiếng đục, mềm, như tiếng người đập chăn bông. Đến tiếng thứ sáu nàng lệch nhịp. Đến tiếng thứ tám nàng quên mất đã đánh mấy tiếng.
– Lại. – Lão Quách nói.
Nàng đánh lại. Lần này nàng đếm. Đếm bằng tiếng ngược, như đếm thùng nước, như đếm hồi ròng rọc. Một, hai, ba, bốn. Mỗi tiếng một con số trong cái thứ tiếng của bản làng trên núi mà Bông vẫn bảo nghe như tiếng chim. Chín tiếng. Thở. Chín tiếng. Thở. Chín tiếng.
– Lại.
Bông ngồi ở ngưỡng cửa gian tây, lưng tựa khung cửa, mắt nhìn ra gian giữa, tai nghe cầu thang. Thỉnh thoảng chị quay vào nhìn Vơi đánh, rồi lại quay ra, không nói gì.
Đến lần thứ mười, hai cánh tay Vơi mỏi như sau ba mươi hai thùng nước. Nhưng nàng không đếm sai nữa. Lão Quách gật đầu, một cái, rất nhẹ.
– Tay cháu khỏe. – Lão nói. – Tay khỏe nhưng chưa nhớ. Mai tập nữa. Ngày kia tập nữa. Tới khi tay cháu tự đếm, không cần cái miệng đếm nữa.
Tối hôm ấy, khi lão Quách đã ngủ, khi Tiểu Lư đã lên gian trống chờ đánh canh một, Bông kéo Vơi ra sau hiên, chỗ dãy sào phơi chiếu.
– Mày nói hết cho tao nghe. – Chị nói. – Hết. Không giấu một chữ. Tao đã canh cửa cho mày đánh trống, tao có quyền biết vì sao tao sắp mất đầu.
Vơi nhìn chị trong ánh đèn lồng hắt ra từ cửa sau. Mặt Bông đanh lại, mắt sáng quắc, cái mặt suốt hai năm vẫn chửi nàng là con ngược.
Nàng kể. Kể hết. Cái ống trong lòng cột, cái van có ba khía chữ V. Bà Diêm và cái khóa bạc. Lương Quế. Người đàn bà đeo con ve ngọc. Chén trà gừng ở Phượng Nghi. Mẹ con Tín và cái khăn trắng buộc ở lan can. Hai túi bạc. Đêm Đông chí.
Bông nghe hết, không chửi một câu. Khi Vơi kể tới chuyện Tín, chị nắm chặt hai tay lại, móng tay bấm vào lòng bàn tay. Nhưng chị không nói gì về Tín. Chị chỉ hỏi:
– Còn con Hạnh?
– Hạnh là người của Quản Bội Hoàn ở Lan Chi. – Vơi nói. – Đêm Trùng cửu, Hạnh xuống gian bể xem cái van được mở, xem cho Quản Bội Hoàn. Lương Quế thấy Hạnh. Lương Quế giết Hạnh.
Bông nhắm mắt lại.
– Nó cứ cười suốt. – Chị nói, như hôm nào. – Chết đến nơi vẫn cười.
Sáng ba mươi tháng Mười, lễ thay thẻ Đại tuyết. Văn Sĩ Trác làm, Tào Lãm cầm thẻ. Lần này Tào Lãm cầm đúng thẻ ngay từ đầu. Vơi nhìn cái thẻ Đại tuyết được cắm vào phao, cái thẻ sẽ đứng trong bình Thụ mười lăm ngày, cho tới sáng rằm tháng Một. Nó sẽ là cái thẻ nổi lên trong đêm Đông chí. Nó sẽ chạy trước, thật thà, không biết mình đang bị lừa.
Lễ xong, một nữ sử của Nội vụ phủ đến lầu, tay cầm một tờ giấy cuộn tròn buộc chỉ đỏ. Chị ta gọi tên Phạm Thị Bông.
Bông bước ra. Chị nhận tờ giấy bằng hai tay, run run. Chị không biết chữ, nhưng chị biết cái dấu son đỏ ở cuối tờ giấy. Chị đã chờ cái dấu ấy mười một năm.
– Giấy thả. – Nữ sử nói. – Hiệu lực ngày mười sáu tháng Một. Sáng hôm ấy ra Cửa Củi, trình giấy này cho lính gác, là được về.
Bông cúi đầu cảm ơn. Nữ sử đi rồi, chị vẫn đứng giữa sân, cầm tờ giấy, nhìn nó như nhìn một con chim non mới nở, sợ bóp mạnh thì nó chết.
Vơi đi tới bên chị.
– Chị Bông. – Nàng nói. – Đêm mười bốn, chị đừng ở lầu. Chị xin đổi ca với ai đó. Ngày mười sáu chị ra rồi. Chị đừng dính vào.
Bông cuộn tờ giấy lại, cẩn thận, buộc chỉ đỏ như cũ, nhét vào trong ngực áo. Rồi chị quay sang nhìn Vơi, cái nhìn đanh đá như mọi khi.
– Thằng Lực chờ chín năm rồi. – Chị nói. – Tao ra muộn một ngày cũng chẳng chết ai.
Chiều hôm ấy, Vơi lại tập trống ở gian tây. Lão Quách ngồi trên đôn chỉ. Bông lại ngồi ở ngưỡng cửa, canh cầu thang. Bịch, bịch, bịch. Chín tiếng. Thở. Chín tiếng. Thở. Lần này nàng không đếm thành tiếng nữa. Nàng để tay tự đếm.
Đến hồi thứ ba, tiếng thứ bảy, nàng thấy nó.
Cánh cửa gian tây khép hờ, chừa một khe hẹp bằng hai ngón tay ở phía sau lưng Bông, phía hành lang thông ra cửa sau. Trong khe hẹp ấy có một con mắt. To, tròn, rụt rè, như mắt con nai.
Vơi đánh nốt tiếng thứ tám, tiếng thứ chín. Khi nàng hạ chày xuống, con mắt đã biến mất. Chỉ còn tiếng chân trần chạy rất khẽ trên nền gạch, xa dần về phía cửa sau.
— Hết chương 24 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe