Chương 23: Hai túi bạc
Túi bạc của Văn Sĩ Trác bằng gấm màu tro, thắt dây đỏ, nặng trĩu trong lòng bàn tay như một hòn đá cuội lớn.
– Năm lạng. – Ông ta nói, rồi phe phẩy quạt. – Sách có câu: "Nước chảy chỗ trũng, bạc chảy chỗ cần." Ta thấy ngươi là chỗ cần.
Trưa hai mươi ba tháng Mười, kiểm nhật quỹ xong, Văn Sĩ Trác bảo Vơi ôm cái hòm gỗ đựng sổ khắc theo ông ta về Khâm thiên giám, bảo hai thư lại bận việc. Ông ta đi trước, nàng đi sau, qua hai dãy hành lang, qua một cái cổng nhỏ, vào một khoảng sân hẹp sau dãy nhà của Khâm thiên giám. Ở đấy có một cái nhật quỹ cũ bằng đá đã nứt làm đôi, bỏ không, rêu mọc kín mặt. Ở đây không có ai. Chỉ có mấy con chim sẻ nhảy trên mái ngói.
Ông ta bảo nàng đặt cái hòm xuống. Rồi ông ta rút túi bạc từ ống tay áo ra.
Vơi không cầm ngay. Nàng nhìn cái túi, rồi nhìn ông ta.
– Bẩm đại nhân, nô tì không hiểu.
– Ngươi hiểu. – Văn Sĩ Trác cười, nụ cười dài và khô như mọi khi. – Thằng Lư nó thấy ngươi sau cây cột. Ngươi có chìa. Cái khóa con nghê là của ngươi.
Nàng im.
– Ta không hỏi ngươi lấy cái khóa ấy ở đâu. – Ông ta nói tiếp, giọng nhẹ nhàng như giảng sách. – Ta cũng không hỏi ngươi tìm ra cái ống ấy bằng cách nào. Cha ngươi làm ra nó, ngươi là con, ngươi tìm ra, ngươi khóa lại, coi như của nhà. Thế là phải đạo. Sách dạy: con giữ đồ của cha là hiếu. – Ông ta gõ quạt vào lòng bàn tay. – Nhưng một đứa con gái mồ côi, cha chết không ai đền, ở cái lầu Giọt ấy kéo nước tới năm hai mươi lăm tuổi, ra cung thì lấy gì mà về quê? Lấy cái khóa đồng à?
– Bẩm, đại nhân muốn nô tì làm gì?
– Ít thôi. – Ông ta nói. – Ít đến mức ngươi làm xong mà như chưa làm gì.
Ông ta kể. Giọng ông ta chậm rãi, đều đều, như đọc một đoạn văn tế đã thuộc lòng. Đêm mười bốn tháng Một, đêm Đông chí, sáng ra Hoàng thượng ra Nam Giao. Đêm ấy Phó giám Khâm thiên giám sẽ tự ngồi coi lầu, vì đêm trọng, không giao cho thư lại được. Sáng hôm ấy ngươi không phải ra Cửa Củi lấy nước suối. Ta cho đứa khác đi. Ngươi ở lầu.
– Trống canh hai, – ông ta nói, – thằng Lư xuống gian bể. Ngươi xuống theo nó, mở cái khóa. Mở xong thì ngươi lên gian tây mà ngủ. Ngủ cho tới sáng. Có nghe trống gì thì cũng cứ ngủ.
– Rồi khóa ai khóa lại?
– Không cần khóa lại. – Văn Sĩ Trác mỉm cười. – Sáng ra, ai cũng có việc của người ấy. Không ai rảnh mà xuống gian bể.
Vơi nhìn cái nhật quỹ đá nứt làm đôi. Rêu xanh mọc dày trên những vạch khắc, che mất chữ Ngọ.
Ông ta không bảo nàng đứng ở Cửa Củi nữa. Ngõ Bếp đêm mùng ba, Lương Quế đã nói: ông Trác lo rồi, sáng ấy nó đứng ở Cửa Củi, đứng ở đúng chỗ cổng mở. Bây giờ cái cổng không cần một con bé xem trăng đứng ở đấy nữa. Cái cổng cần cái chìa trong cổ áo nàng hơn.
Quản Bội Hoàn đã nói đúng. Chúng sẽ đến mua.
– Bẩm đại nhân. – Nàng nói. – Năm lạng là tiền cái khóa. Còn cái miệng nô tì thì sao?
Văn Sĩ Trác ngừng quạt. Ông ta nhìn nàng, rất lâu, bằng cái nhìn mà nàng đã thấy hôm thay thẻ Tiểu tuyết, cái nhìn của người đi chợ nhìn một con gà. Rồi ông ta bật cười, một tiếng cười ngắn, có vẻ hài lòng thật.
– Tốt. Biết mặc cả là biết điều. Người biết điều thì dễ nói chuyện. – Ông ta nói. – Năm lạng nữa sau Đông chí. Mười lạng là một nén. Đủ cho ngươi về Thượng Nguyên mà làm bà chủ.
Một nén bạc. Hoàng hậu cũng hứa một nén. Hai người đứng ở hai đầu cái cấm thành này, ghét nhau như nước với lửa, lại cùng định giá nàng đúng một nén.
– Bẩm, đêm ấy là đêm mười bốn. – Vơi nói. – Trăng sáng lắm.
– Thì nhắm mắt. – Văn Sĩ Trác giắt quạt vào thắt lưng, cầm cái hòm sổ khắc lên. – Sách có câu: không thấy thì không biết, không biết thì không tội. Ngươi về đi. Đừng nói với ai. Nói ra thì cả năm lạng này lẫn cái đầu ngươi đều không giữ được.
Vơi cầm túi bạc, nhét vào ngực áo, cạnh cái túi vải nhỏ đựng chìa khóa con nghê.
Sáng hai mươi bốn, nàng đến Cung chính ty.
Quản Bội Hoàn nghe nàng kể, từ cái nhật quỹ nứt ở sân sau Khâm thiên giám cho tới câu "không thấy thì không biết". Ngón tay cái của chị ta lướt qua các đốt ngón tay, nhanh hơn thường lệ một chút. Khi nàng kể tới chỗ mình mặc cả thêm năm lạng, chị ta dừng tay.
– Ngươi mặc cả?
– Dạ. Đại nhân dặn bán đắt một chút cho họ tin.
Quản Bội Hoàn nhìn nàng. Rồi khóe môi chị ta nhích lên, lần thứ hai Vơi thấy cái nụ cười thật của chị ta.
– Ta không dặn sai người. – Chị ta nói. Rồi chị ta mở ngăn kéo án thư, lấy ra một cái túi nhỏ bằng lụa xanh lam, thêu một bông hoa sen nhỏ ở góc, đặt lên mặt án. Cái túi kêu lên một tiếng khẽ, tiếng bạc chạm vào bạc. – Năm lạng. Nương nương thưởng trước. Sau Đông chí là phần còn lại.
Vơi nhìn cái túi lụa.
– Bẩm, nô tì đã có tiền của ông Trác.
– Thì giờ ngươi có tiền của cả hai bên. – Quản Bội Hoàn đẩy cái túi về phía nàng. – Cất cho kỹ. Đêm ấy ông Trác ngồi coi lầu. Ông ta cho ngươi ở trong lầu là đúng ý nương nương. Ngươi ở gian bình, đừng ở gian tây. Đến lúc ta dặn thêm.
– Dạ.
– Ngươi có sợ không?
Câu hỏi đến nhẹ, như câu hỏi hôm nào ở cổng sân lầu Chính Thời: thế ngươi nghĩ trống canh ba đêm qua có đúng không.
– Bẩm, có. – Vơi nói thật.
– Tốt. – Quản Bội Hoàn nói. – Người không sợ thì làm hỏng việc.
Đêm ấy, nằm ở gian tây, Vơi mở cái hòm gỗ nhỏ của mình ra trong bóng tối. Nàng lần tay xuống đáy, sờ thấy những thứ nàng đã cất. Bốn cái chốt tre gói trong giẻ. Cây trâm đuôi phượng gói trong mảnh vải đỏ. Viên đá cuội của Thái tử. Nàng đặt hai cái túi bạc vào cạnh chúng. Cái túi gấm màu tro của Văn Sĩ Trác. Cái túi lụa xanh lam thêu sen của Quản Bội Hoàn. Hai cái túi nằm cạnh nhau trong đáy hòm, cùng một sức nặng, cùng một tiếng kêu khi chạm vào nhau.
Mười lạng bạc. Đúng bằng số bạc tuất Nội vụ phủ trả cho nhà nàng khi cha chết. Mười lạng, Quản Bội Hoàn đã nói. Ta là người ghi dòng ấy.
Nàng đóng nắp hòm lại.
Đúng bằng giá một mạng người. Ở cái cung này, mạng người có giá, và người ta trả bằng bạc lạng, gói trong lụa thêu hoa.
Canh năm sáng hai mươi lăm, ở Cửa Củi, nàng kể cho Đổng Viễn nghe về hai cái túi. Anh ta đứng cạnh nàng chỗ chờ xe nước, mắt vẫn nhìn ra hàng xe rau, nghe xong thì im một lúc.
– Mỗi bên năm lạng, sau Đông chí thêm năm lạng nữa. – Anh ta nói. – Một nén từ mỗi bên.
– Dạ.
– Rẻ. – Đổng Viễn nói, giọng khô như vỏ củi. – Ở biên ải, một cái đầu giặc Bộ Binh thưởng ba nén.
Vơi suýt bật cười. Nàng không nhớ lần cuối mình suýt cười là bao giờ.
– Hiệu úy còn sáu sáng nữa ở cái cổng này. – Nàng nói.
– Năm. – Anh ta nói. – Sáng mùng một tôi đã phải đứng ở Bắc An rồi. – Anh ta liếc nàng. – Cô đếm sai một lần. Đêm ấy đừng đếm sai.
Trưa hai mươi lăm, Văn Sĩ Trác đến kiểm nhật quỹ, tay xách một gói giấy dó buộc lạt. Kiểm xong, ông ta không đi ngay mà đi tới chỗ lão Quách đang đứng ở góc sân, đặt cái gói vào tay lão.
– Trà búp núi Tây Bình. – Ông ta nói to, cho cái tai nghễnh ngãng của lão nghe được. – Người nhà ta ở dưới chân núi gửi lên. Ta không uống trà mạnh, để thì phí. Biếu ông già. Ba mươi năm đánh trống cho cả kinh thành, chưa ai biếu ông gói trà nào phải không?
Lão Quách cầm gói trà, mặt đỏ lên như đứa trẻ được quà. Lão cúi người rất thấp, cảm ơn rối rít. Ba mươi năm, đúng là chưa có quan nào biếu lão cái gì.
Vơi đứng cạnh giếng Lậu, nhìn. Văn Sĩ Trác không nhìn nàng. Ông ta vỗ vai lão Quách một cái, rồi đi, cái quạt phe phẩy trong gió bấc.
Chiều hôm ấy lão Quách pha trà. Lão pha đặc, uống bằng cái chén đất to như cái bát, vừa uống vừa khà khà khen thơm. Lão mời cả lầu. Bông nhấp một ngụm, nhăn mặt, bảo đắng như mật cá. Tiểu Lư bảo em không uống trà. Tín không uống gì từ tay ai. Vơi cầm cái chén lão rót cho, ngửi. Mùi trà thơm ngái, hơi hăng, như mùi lá rừng ngâm trong nước suối. Nàng không biết trà, chỉ biết lá. Nàng nhấp một chút ở đầu lưỡi. Đắng, rồi tê tê, như ngậm một miếng lá ngón non. Không. Không phải lá ngón. Lá ngón thì nàng biết, ở quê có người chết vì nó. Đây chỉ là tê.
– Ông đừng uống nhiều. – Nàng nói to vào tai lão. – Trà mạnh, đêm không ngủ được.
– Lão có ngủ bao giờ đâu mà sợ. – Lão Quách cười, rót thêm chén nữa. – Đêm nào chẳng thức đánh trống.
Hai ngày, lão uống hết nửa gói.
Chập tối hai mươi bảy, đến giờ đánh trống canh một. Tiểu Lư ở gian bình gọi lên. Lão Quách đứng dậy, đi tới cái trống lớn, cầm đôi dùi gỗ lên như mọi tối, như ba mươi năm nay.
Vơi đang ở gian bình đổ nước vào Nhật bình. Nàng nghe tiếng trống đầu tiên. Tiếng thứ hai. Tiếng thứ ba. Rồi một khoảng ngừng dài hơn thường lệ. Rồi một hồi dồn, nhưng dồn không đều, như người đi trên đá trơn, chân này vấp chân kia. Một tiếng lạc nhịp. Một tiếng nhẹ hẳn, như dùi chỉ quệt qua mặt da.
Rồi im.
Rồi có tiếng gỗ rơi xuống sàn, lăn lốc cốc.
Vơi buông thùng nước, chạy lên. Lão Quách đứng giữa gian trống, hai tay giơ ra trước mặt, nhìn chúng như nhìn hai bàn tay của người khác. Một chiếc dùi nằm dưới chân lão. Chiếc kia lão vẫn cầm, nhưng cầm không chặt, các ngón tay cứ co lại rồi duỗi ra, run bần bật như những cái lá cuối cùng trên cành ngô đồng giữa gió bấc.
– Cháu ơi. – Lão nói, giọng to như mọi khi, nhưng có cái gì đó vỡ ra trong ấy. – Cháu ơi, tay lão làm sao thế này?
— Hết chương 23 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe