Chương 1: Giọt nước chạy nhanh
Tiếng trống canh ba nện xuống đúng lúc thùng nước thứ mười vừa nhô lên khỏi miệng lỗ kéo.
Vơi giật mình, sợi dây trượt nửa gang trong lòng bàn tay. Thùng nước chao, sóng sánh ra mép, nhưng không rơi. Vòng dây quấn ngược quanh cổ tay trái giữ nó lại, cái vòng mà hồi bé cha nàng bắt nàng quấn mỗi lần kéo gàu ở suối: tay phải là tay làm, tay trái là tay giữ mạng. Nàng nghiến răng kéo nốt, móc quai thùng vào cái móc sắt cạnh Nhật bình, rồi đứng thở.
Trên đầu, lão Quách vẫn đang nện. Ba tiếng dài, dừng, rồi một hồi dồn. Cả cái lầu gỗ rung lên theo, bụi trên xà rắc xuống tóc nàng như cám.
Vơi bước ra phía cửa sổ hướng tây của gian bình. Đêm mùng chín tháng Chín, trời trong, heo may thổi lạnh gáy. Bên kia dãy hành lang, mái Điện Thừa Vận nằm đen sẫm, hai đầu nóc cong lên như hai cái sừng. Và mặt trăng mùng chín, cái mặt trăng bị ai cắn mất một miếng, đang treo trên nóc điện, cao hơn đường nóc chừng một sải tay.
Nàng đứng nhìn nó rất lâu.
Hai năm ở lầu Chính Thời, đêm nào nàng cũng nhìn trăng khi trống điểm canh. Đó là thói quen từ hồi theo cha đi rừng ở Thượng Nguyên, ngủ lán trên nương, không có trống, chỉ có trăng. Cha bảo trăng rằm đứng đỉnh đầu là canh ba, trăng rằm chạm núi là gà gáy, còn trăng non thì mỗi đêm đi chậm hơn một chút, phải nhớ mà trừ. Ở đây không có núi gần, nàng lấy nóc điện làm mốc. Đêm mùng chín nào cũng thế, tháng nào cũng thế, khi lão Quách đánh trống canh ba thì mặt trăng vừa ngồi lên nóc Điện Thừa Vận, lưng chạm vào hai cái sừng.
Đêm nay nó còn cao quá một sải tay.
– Chị Vơi! Nước! – Tiểu Lư gọi từ chỗ bình Thụ. – Nhật bình vơi tới vạch rồi kìa. Chị đứng ngắm trăng làm thơ à?
Thằng bé mười lăm tuổi, mặt tròn, nói nhanh như rang ngô. Đêm nay nó ngồi đọc thẻ thay Bà Diêm, vì bà bảo mắt bà mờ, cho nó tập. Nó khoanh chân trên cái đôn gỗ, mũi gần chạm vào cái thẻ tre, mỗi lần thẻ nhích một vạch là gọi điểm như người được mùa.
Vơi nhấc thùng, đổ nước vào Nhật bình. Nước chảy ồ ồ vào lòng đồng, rồi từ Nhật bình rỉ qua cái vòi nhỏ sang Nguyệt bình, từ Nguyệt bình xuống Tinh bình, từ Tinh bình nhỏ từng giọt vào bình Thụ. Bốn cái bình đồng xếp bậc thang trên bệ gỗ, cái dưới cùng đứng thẳng, cao ngang vai nàng, trong lòng có cái phao gỗ nổi dần theo nước. Trên phao cắm thẻ tiễn, cái que tre dài khắc một trăm vạch. Nước lên, phao lên, thẻ lên, và cả cấm thành Thừa Kinh biết mấy giờ là nhờ cái que tre ấy.
Đổ xong, nàng rút từ trong vạt áo ra cái ống nghe.
Nó chỉ là một khúc tre ngắn bằng cổ tay, dài một gang, một đầu vát chéo, đầu kia bịt một miếng da mỏng có khoét lỗ. Cha nàng làm nó để nghe nước chảy trong máng, trong ống, để biết chỗ nào tắc, chỗ nào rò mà không phải đào lên. Ông mất đi chỉ để lại cho nàng có thế. Vơi áp đầu vát vào thành bình Thụ, ghé tai vào đầu kia.
Tách. Tách. Tách.
Hai năm nay nàng nghe cái tiếng ấy mỗi đêm, quen như nghe tim mình đập. Đêm nay nó dày hơn. Không nhiều, không đến mức một người thường nghe ra, nhưng dày hơn, như mưa đầu hạ khi hạt vừa nặng lên. Như có ai đó đang đổ thêm vào.
– Chị làm cái gì thế? – Tiểu Lư ngoái lại.
– Nghe xem bình có rò không.
– Bình đồng mà rò. Chị lắm chuyện. – Nó quay lại với cái thẻ, rồi lẩm bẩm như nói với chính mình: – Canh ba, điểm một sắp tới rồi đây.
Vơi cất ống nghe vào áo. Nàng nghĩ đến lúc đầu canh hai, khi Hạnh lên lầu.
Hạnh là cung nữ bên Cung Lan Chi, cung của Quý phi, cùng làng với Bông. Tối nay Tết Trùng cửu, các cung được phát rượu cúc và bánh hoa cúc, Hạnh bọc trong khăn sáu cái bánh mang sang, bảo cho cả lầu mỗi người một cái. Bánh vàng, in hình bông cúc, còn ấm. Lão Quách ăn hai cái vì lão bảo răng lão còn tốt. Hạnh cười lanh lảnh, kể chuyện Quý phi đánh rơi chén rượu vào váy Chiêu nghi. Rồi trước khi đi, Hạnh kéo tay Vơi ra góc, hỏi một câu chẳng đầu chẳng đuôi:
– Đêm nay canh ba đánh lúc nào hả chị?
– Lúc thẻ tới vạch. – Vơi đáp.
– Thì em biết thế. – Hạnh cười, nhưng mắt không cười. – Ý em là có sớm không.
Vơi chưa kịp hỏi lại thì Hạnh đã quay đi, bước xuống cầu thang. Nàng nghe tiếng guốc gỗ của Hạnh xuống hết bậc gian bình, xuống hết bậc tầng đất. Rồi nàng nghe thêm bảy tiếng nữa. Cầu thang xuống gian bể có bảy bậc gỗ mít, bậc thứ năm kêu cọt kẹt. Hạnh không đi ra cửa. Hạnh đi xuống.
Lúc ấy Vơi nghĩ Hạnh tò mò muốn xem cái bể đá dưới hầm. Giờ thì nàng không chắc nữa.
– Điểm một! – Tiểu Lư gọi to lên cầu thang.
Trên gian trống, Bông đánh một tiếng thanh la. Âm đồng ngân dài trên mái các cung, trôi đi trong gió heo may.
Vơi xách thùng không xuống lỗ kéo để lấy chuyến nữa thì gặp Bà Diêm đi lên.
Bà Chưởng khắc sáu mươi ba tuổi, người nhỏ, lưng hơi còng. Bốn mươi năm ở lầu này, bà nghe giọt nước là đoán được giờ, sai không quá một điểm. Mắt bà kéo màng trắng, nhìn người phải nghiêng đầu. Bà đi lên từ phía dưới, một tay vịn lan can, tay kia cầm cái đèn lồng nhỏ. Ánh đèn hắt lên tay áo bà. Ống tay áo bên phải ướt sẫm tới khuỷu.
– Bà xuống bể ạ?
– Xem nắp. Gió lùa vào bụi. – Bà Diêm đáp cộc, không dừng.
Vơi nép vào tường cho bà qua, rồi đi theo bà lên gian bình. Đợi Tiểu Lư quay đi châm dầu đèn, nàng mới nói nhỏ:
– Bà ơi, trống canh ba vừa rồi sớm.
Bà Diêm không quay lại.
– Ai bảo mày?
– Trăng bảo. Mùng chín nào canh ba trăng cũng ngồi trên nóc Điện Thừa Vận. Đêm nay nó còn cao hơn một sải tay. Với lại tiếng giọt…
Cái tát đến nhanh đến mức nàng không kịp thấy tay bà giơ lên. Không đau lắm, bàn tay già không còn mấy sức, nhưng má nàng nóng ran. Tiểu Lư đứng sững với cái bình dầu trên tay.
– Trăng không đánh trống. – Bà Diêm nói, giọng không to hơn tiếng giọt nước. – Thẻ đánh trống. Mày ở lầu này hai năm mà chưa thuộc câu ấy à, con bé ngược?
– Nô tì thuộc.
– Thuộc thì xuống kéo nước. Đọc thẻ là việc của người được giao đọc thẻ. Kéo nước là việc của mày. Lệ lầu này, đứa nào làm việc của đứa khác thì ra ngoài cổng mà làm.
Vơi cúi đầu, xách thùng đi xuống.
Đó là lệ của lầu Chính Thời, và nàng thuộc hết. Người đọc thẻ chỉ được tin thẻ. Đến điểm thì gọi, cung nữ trên gian trống đánh thanh la. Đến canh thì gọi, thái giám đánh trống, vì đàn bà không được đánh trống lầu, xưa nay chưa có. Canh năm thì trống đánh ba hồi, gọi là trống khai môn, nghe xong tiếng ấy lính gác các cổng cấm thành mới được rút then. Cả cung, từ Hoàng thượng thức dậy rửa mặt cho đến lính đổi gác ở Cửa Củi, đều sống theo cái que tre trong bình Thụ. Trăng có thể bị mây che, người có thể nhầm, chỉ có nước là không biết nói dối. Cho nên lệ mới cứng như sắt.
Nàng kéo thêm sáu thùng nữa. Ròng rọc trên gian trống kêu ken két, cái tiếng mà Bông bảo nghe như con cò bị kẹt cổ, đứng tận ngoài sân cũng nghe. Mỗi thùng lên, nàng lại liếc ra cửa sổ. Mặt trăng hạ dần. Khi nó chạm vào nóc điện thì Tiểu Lư đã gọi tới điểm hai của canh ba.
Hai điểm. Chừng ấy là gần nửa canh.
Hết phiên, Bà Diêm bảo nàng đi ngủ, sáng mai dậy sớm cọ bể. Bình thường nửa đêm sau nàng đọc thẻ, hôm nay bà bảo bà ngồi. Vơi nằm ở gian tây tầng đất, cạnh Tín đã ngủ say. Nàng không ngủ được. Nàng nghe tiếng giọt nước qua sàn gỗ, qua bóng tối, mơ hồ như nghe trong mơ. Có lúc nàng tưởng mình nghe thấy tiếng bậc thứ năm cọt kẹt. Có lúc nàng nghe tiếng nước chảy ở đâu đó dưới chân, chảy rất lâu.
Trống canh tư. Rồi trống canh năm.
Ba hồi trống khai môn đánh thức nàng khỏi một giấc chập chờn. Vơi vùng dậy, chạy lên gian trống, đúng lúc lão Quách hạ dùi. Phía tây, sau bức tường thành, mặt trăng đã lặn từ lâu. Nàng quay sang phía đông. Sao Mai đứng một mình trên nền trời xám tro, sáng như hạt muối. Cả tuần nay, sáng nào trống canh năm đánh, nó cũng đứng đúng chỗ ấy, ngang ngọn cột cờ trên tường đông.
Canh năm đúng giờ.
Nàng đứng giữa gió, hai tay ôm lấy vai. Canh ba sớm gần nửa canh, canh năm lại đúng. Nước không thể tự chạy nhanh rồi tự chạy chậm. Nếu ai đó đổ thêm nước cho thẻ chạy trước, thì cũng có ai đó đã rút bớt cho nó lùi lại.
– Ông ơi, đêm qua trống canh ba ông có thấy gì lạ không?
– Lạ cái gì? Thằng Lư gọi thì lão đánh. – Lão Quách gõ gõ vào tai mình, nói to như mọi người tai nghễnh ngãng. – Cái tai này giờ chỉ nghe được trống thôi cháu ạ.
Trời sáng dần. Vơi xuống gian bể làm việc của mình.
Gian bể nằm nửa chìm dưới đất, lối xuống là bảy bậc gỗ mít. Cái bể đá vuông chiếm gần hết gian, mỗi cạnh chừng một sải rưỡi, sâu ngang ngực người lớn, thành và đáy trát một lớp đất sét xanh cho nước khỏi rỉ. Trên bể đậy hai tấm nắp gỗ lim nặng trịch. Sáng nào cũng phải đợi Tiểu Lư và lão Quách xuống, mỗi người một đầu mới nhấc được một tấm. Một mình nàng thì đến lay cũng không nhúc nhích. Ở góc tây bắc, ngay dưới lỗ kéo, người ta chừa ra một ô nhỏ đậy bằng cái nắp con nhẹ tênh, đêm đêm mở ra để thả thùng xuống múc. Trên tường phía bắc có một cái cửa gỗ thấp, mở ra là lòng giếng Lậu, giếng riêng của lầu, thành giếng có những bậc sắt cắm vào đá, chạy từ mặt nước lên tận miệng giếng ngoài sân. Nước được múc qua cái cửa ấy đổ vào bể, rồi từ bể kéo lên lỗ kéo cho tới gian bình.
Hai người đàn ông nhấc nắp xong thì lên ăn cháo. Vơi ở lại, cầm bàn chải rơm và cái đèn dầu.
Nàng cọ thành bể phía nam, phía tây, rồi vòng sang đông. Đến góc đông bắc, nơi cột gỗ lớn nhất của lầu cắm xuống nền đá, nàng dừng lại vì giẫm phải một cái gì cứng. Nàng cúi xuống, soi đèn.
Một mẩu dăm tre.
Không phải dăm cũ. Mặt cắt còn trắng, thớ tre còn ướt, mùi tre tươi thơm ngái trong mũi. Ai đó đã gọt một cái gì bằng tre ở đây, rất gần, chưa quá một đêm. Mẩu dăm dài bằng ngón tay, một mặt nhẵn, mặt kia có mấy vết khắc. Vơi đưa nó lại gần ngọn đèn.
Ba khía hình chữ V, nhỏ, đều, xếp liền nhau, cái giữa sâu hơn hai cái bên.
Nàng đứng lặng giữa gian bể, tay cầm mẩu dăm, nghe tim mình đập vào tai to hơn tiếng giọt nước.
Ba khía chữ V. Cái giữa sâu hơn. Nàng đã thấy nó trên cán dao rựa nhà mình, trên những ống máng tre dẫn nước từ khe xuống ruộng bậc thang ở Thượng Nguyên, trên cái ống nghe đang nằm trong ngực áo nàng. Ở quê, ai cũng biết cái dấu ấy. Món đồ nào có ba khía chữ V là món đồ của thợ Bế Văn Đàng làm, dùng mười năm không hỏng.
Bốn năm trước, Công bộ cho người lên tận Thượng Nguyên gọi cha nàng về kinh sửa đường nước cho cái lầu này. Gần hai năm sau, đêm mười chín tháng Chạp, người ta báo về làng rằng ông trượt chân ngã từ giàn giáo mặt tây lầu Chính Thời, chết ngay. Họ gửi về một cái tay nải, một ít bạc, và cái ống nghe. Mười sáu tuổi, Vơi ôm cái ống nghe ấy suốt bốn mươi chín ngày. Cha nàng leo guồng cọn nước cao bằng ba người suốt hai mươi năm, chưa từng trượt chân lấy một lần.
Mùa xuân năm sau nàng xin vào cung. Nửa năm sau nữa nàng xin về lầu Giọt, chỗ việc nặng nhất, không ai tranh. Hai năm nàng kéo nước, cọ bể, nghe giọt, nhìn trăng, chờ cái lầu này nói ra một điều gì đó.
Đêm qua, có lẽ nó đã nói.
Trên đầu nàng, ở tầng đất, có tiếng chân người chạy rầm rập. Rồi tiếng Bông, the thé, xé toang buổi sáng:
– Ai đấy? Ai ngoài ngõ la cái gì thế?
Vơi nắm chặt mẩu dăm tre trong lòng bàn tay, ba cái khía hằn vào da. Ngoài kia, từ phía Cung Lan Chi, tiếng một người đàn bà kêu thất thanh vọng tới, kéo dài, như tiếng gàu nước rơi tuột xuống lòng giếng sâu.
— Hết chương 1 —
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe