AI Truyện
Canh năm đến sớm

🏯 Cổ đại & cung đấu

Bóng nắng giờ Ngọ

Canh năm đến sớm · Chương 5/37 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Bóng nắng giờ Ngọ

– Ngọ chính!

Phó giám Văn Sĩ Trác giơ cao tay phải, ống tay áo bào màu tro rủ xuống như cánh cò. Cái bóng của cây kim đồng trên mặt đá nhật quỹ vừa chạm đúng vạch khắc chữ Ngọ, đen và sắc như một nét mực.

Trên gian bình, giọng Bà Diêm vọng xuống qua cửa sổ, khô và rõ:

– Thẻ, khắc năm mươi, đúng vạch!

Tín đứng ở bậc thềm cửa lầu, nhắc lại cho to hơn. Hai thư lại của Khâm thiên giám đứng hai bên nhật quỹ cúi xuống, một người cầm bút, một người giữ cuốn sổ bìa vải xanh. Văn Sĩ Trác hạ tay, gật đầu một cái thật chậm, như vừa nghe một bài thơ hay.

– Ghi: ngày mười ba tháng Chín, trời quang, bóng nắng đối thẻ, không sai.

Cái nhật quỹ đứng giữa sân lầu Chính Thời đã hơn trăm năm, một phiến đá xanh tròn như cái nong, đặt nghiêng trên bệ đá, mặt khắc mười hai chữ giờ và trăm vạch khắc nhỏ li ti. Ở tâm cắm một cây kim đồng chỉ về phía bắc. Trưa nào trời nắng, Phó giám Khâm thiên giám cũng đến đây đối bóng nắng với cái thẻ trong bình Thụ, chỉnh lại nếu lệch, ghi vào sổ khắc. Trời âm u thì thôi. Cả lầu Giọt gọi buổi ấy là "buổi quan về", và ai cũng phải đứng nghiêm.

Văn Sĩ Trác bốn mươi lăm tuổi, người dong dỏng, râu ba chòm tỉa gọn, tay lúc nào cũng cầm một cái quạt giấy dù trời đã heo may. Ông ta nói chuyện như đọc sách, câu nào cũng có chỗ dẫn.

– Sách Khắc Lậu Kinh có câu: "Trời không nói mà bốn mùa đi, nước không nói mà trăm khắc đủ." – Ông ta phe phẩy quạt, nói với Bà Diêm vừa đi xuống. – Bà Chưởng khắc giữ cái lầu này, đúng là giữ được cái lời không nói của trời đất.

– Đại nhân quá khen. – Bà Diêm cúi đầu. – Nô tì chỉ giữ nước.

Vơi đứng cạnh giếng Lậu với hai thùng nước, chờ bọn quan đi khỏi mới được xách vào. Văn Sĩ Trác đi ngang qua, liếc nàng một cái, rồi dừng lại.

– Đứa này là đứa xem trăng phải không? – Ông ta hỏi Bà Diêm, giọng thích thú. – Ta nghe Cung chính ty đồn, con bé kéo nước lầu Giọt cãi được cả quản sự Lan Chi bằng bóng trăng.

– Bẩm, con bé ngược, nói bừa.

– Nói bừa mà trúng thì cũng là cái tài. – Văn Sĩ Trác gõ quạt vào lòng bàn tay, nhìn Vơi. – Ngươi xem trăng mà biết giờ, vậy ngươi nói xem, trăng với cái lầu này, cái nào đúng hơn?

Vơi cúi đầu.

– Bẩm, nô tì không dám so. Nô tì chỉ muốn hỏi đại nhân một điều.

– Hỏi đi.

– Bẩm, hôm mùng mười, sau đêm Trùng cửu, bóng nắng giờ Ngọ có khớp với thẻ không ạ?

Cái quạt dừng lại giữa chừng. Chỉ một nhịp, rất ngắn. Rồi nó lại phe phẩy.

– Khớp. – Văn Sĩ Trác cười. – Lầu này bốn mươi năm chưa lệch nửa khắc. Sổ khắc còn đó, ngươi biết chữ thì ta cho xem.

– Bẩm, nô tì không biết chữ.

– Thế thì tiếc. – Ông ta quay đi, áo bào phất qua một vệt gió. – Bà Chưởng khắc, con bé này tò mò quá. Tò mò thì nên đi học chữ, đừng đi học trăng.

Bọn quan đi rồi, Vơi xách nước vào, đầu nặng trĩu.

Lầu này bốn mươi năm chưa lệch nửa khắc. Gần đúng từng chữ Bà Diêm nói với Quản Bội Hoàn hôm mùng mười. Hai người nói cùng một câu, như hai người học thuộc cùng một bài.

Nhưng điều làm nàng nặng đầu không phải câu ấy. Mà là: Văn Sĩ Trác không nói dối. Trưa mùng mười, bóng nắng hẳn đã khớp với thẻ thật. Vì đêm Trùng cửu, ai đó cho thẻ chạy nhanh, rồi trước canh năm lại cho nó lùi về đúng chỗ. Đến trưa, quan về đối nhật quỹ, mọi thứ ngay ngắn như chưa có gì. Sổ khắc ghi "không sai". Và sổ khắc nói đúng.

Một cái lầu có thể nói dối suốt nửa đêm mà sáng ra vẫn là cái lầu thật thà nhất kinh thành. Mặt trời không thấy được gì của ban đêm. Chỉ có trăng thấy.

Nàng đổ xong thùng thứ hai vào Nhật bình thì Bà Diêm lên tới gian bình. Bà không ngồi xuống đôn, mà đứng chắn ngay lối cầu thang.

– Mày hỏi quan cái gì?

– Bẩm, nô tì hỏi bóng nắng hôm mùng mười.

– Ai cho mày hỏi?

– Bẩm, không ai cho. – Vơi đặt cái thùng không xuống sàn. – Nhưng nô tì hỏi bà thì bà tát.

Bà Diêm nghiêng đầu nhìn nàng, cái nhìn mờ đục mà vẫn làm người ta muốn cúi mặt. Dưới chân hai người, tiếng giọt nước rơi vào bình Thụ đều đặn như tiếng ai gõ móng tay lên mặt bàn.

– Mày muốn hỏi thì hỏi tao. – Bà nói. – Đừng hỏi người ngoài.

– Thế bà có trả lời không?

– Không.

Bà quay xuống, đi được mấy bậc rồi nói vọng lên, không to:

– Nhưng tao cũng không đi kể với ai là mày đã hỏi.

Đầu giờ Mùi, một thái giám lạ đến cổng sân.

Hắn không mặc áo của cung nào. Áo vải thâm, mũ thâm, khuôn mặt bình thường đến mức nhìn xong là quên. Tay hắn cầm một gói nhỏ bọc vải đỏ. Hắn không vào sân, chỉ đứng ở cổng hỏi Tiểu Lư: có phải đây là chỗ Diêm ma ma không. Tiểu Lư chạy vào gọi. Bà Diêm đi ra.

Vơi đang phơi giẻ trên dây ở hiên tây, nhìn thấy cả.

Thái giám lạ đưa gói đỏ cho Bà Diêm bằng hai tay, cúi đầu rất lễ phép.

– Người nhà ma ma gửi vào, nhờ ma ma giữ hộ cho cháu. Người nhà dặn: ma ma giữ cẩn thận, kẻo cháu nó mất.

Hắn đi luôn, không chờ trả lời. Bà Diêm đứng ở cổng, mở gói vải ra.

Trong đó là một cái khóa bạc trẻ con, loại khóa hình con cá mà người ta đeo vào cổ đứa trẻ đầy năm để giữ vía, có sợi dây bạc mảnh luồn qua. Ánh nắng đầu chiều rọi lên, nó lấp lánh như một con cá thật vừa nhảy khỏi nước. Bà Diêm cầm nó trong lòng bàn tay, nhìn rất lâu, rồi nắm chặt lại. Vơi thấy những khớp ngón tay già nua của bà trắng bệch.

Bà quay vào, đi ngang qua Vơi mà không nhìn, đi thẳng vào buồng, đóng cửa.

– Người nhà gì mà gửi khóa bạc vào cung. – Bông lẩm bẩm, tay vắt cái áo ướt lên dây. – Bà già có con có cháu gì đâu.

– Bà có cháu không chị?

– Có một thằng cháu trai, con người em, làm thư lại ở nha Kinh triệu gì đấy. Tết nào nó cũng nhờ người gửi vào cho bà gói mứt gừng. – Bông nhún vai. – Chắc nó mới đẻ con. Đẻ con thì gửi khóa bạc cho bà cô giữ hộ làm gì? Giữ ở nhà không giữ được à?

Vơi không trả lời. Nàng nhìn cánh cửa buồng đông đóng im ỉm. Người nhà gửi vào, nhờ giữ hộ cho cháu, kẻo cháu nó mất. Câu nói lễ phép quá, lễ phép như một lưỡi dao bọc lụa.

Chiều muộn, Vơi xuống gian bể lấy giẻ thì thấy Bà Diêm ở đó.

Bà đứng một mình trước bể, nắp gỗ lim đã đậy lại sau buổi sáng, hai tay chống lên mép nắp. Ngọn đèn đặt trên bậc chót hắt bóng bà dài lên vách đá, cái bóng còng còng to gấp mấy lần người thật. Bà không làm gì cả. Chỉ đứng.

Vơi lùi lại định lên, nhưng bậc thứ năm kêu.

– Xuống đây. – Bà nói, không quay lại.

Vơi xuống, đứng cách bà mấy bước. Gian bể lạnh, mùi đá ướt và mùi sét. Dưới nắp gỗ, nước trong bể sóng sánh nhè nhẹ, vì giếng Lậu thông ngầm, mặt nước trong giếng lên xuống thì nước trong bể cũng thở theo.

– Mày ở đây hai năm rồi nhỉ. – Bà Diêm nói.

– Dạ, hơn hai năm ạ.

– Có biết cái bể này ai xây không?

– Dạ không.

– Thời Tiên đế. Bốn mươi năm trước, lúc tao mới vào, nó đã ở đây. Đá chở từ núi Tây Bình về, mười hai thợ đục suốt một mùa. – Bà đưa bàn tay vuốt lên mặt gỗ lim như vuốt lưng một con vật nuôi. – Bốn năm trước, Nội vụ phủ cho sửa lại đường nước, thay ống, thay vòi, trát lại sét. Công bộ gọi về một ông thợ người ngược. Tay khéo lắm. Cái gì ông ấy làm ra cũng chạy êm, kêu nhỏ, như vốn đã ở đấy từ xưa.

Vơi đứng im. Nàng nghe máu dồn lên hai bên thái dương.

– Rồi sao hả bà?

– Rồi chết. – Bà Diêm nói gọn. – Một đêm tháng Chạp, leo giàn giáo mặt tây làm cái gì không biết, trượt chân. Chết vì hấp tấp. Thợ giỏi mà hấp tấp thì cũng chết như thợ dở.

Một giọt nước từ trên xà nhỏ xuống nắp gỗ, kêu tách một tiếng.

– Mày cũng người ngược. – Bà Diêm nói, vẫn không quay lại. – Mày có biết ông ấy không?

Vơi nhìn tấm lưng còng trước mặt. Nàng có thể nói. Nàng có thể bảo: đó là cha con, con đến đây vì ông ấy, bà biết gì về đêm ấy thì nói cho con. Hai năm rưỡi, nàng chờ mãi một người để hỏi câu ấy.

Nhưng cái khóa bạc hình con cá vẫn nằm đâu đó trong ống tay áo của bà. Và đêm Trùng cửu, ống tay áo ấy ướt sẫm tới khuỷu.

– Thượng Nguyên rộng lắm bà ạ. – Nàng nói. – Mười mấy châu, mấy trăm bản.

Bà Diêm im rất lâu.

– Ừ. – Cuối cùng bà nói. – Rộng.

Bà cầm đèn đi lên. Đến bậc thứ năm, gỗ kêu cọt kẹt. Bà dừng lại một nhịp, như để nghe cái tiếng ấy cho hết, rồi đi tiếp.

Vơi ở lại một mình trong gian bể tối. Nàng không thắp đèn. Nàng ngồi xuống bậc chót, lưng dựa vào vách, nhìn về phía góc đông bắc, nơi cây cột Cấn chìm trong bóng đen, chỉ còn một vệt sơn đỏ sẫm hắt lại chút ánh sáng lọt xuống từ lỗ kéo. Nàng nghĩ đến người thợ tay khéo làm cái gì cũng chạy êm, kêu nhỏ, như vốn đã ở đấy từ xưa. Nàng nghĩ đến con rắn trong cột.

Đêm ấy là đêm mười ba. Trăng gần tròn, sáng vằng vặc, rọi qua song cửa gian tây thành những vạch trắng trên chiếu. Bà Diêm cho nàng nghỉ ca đầu, bảo hai hôm kéo gấp đôi rồi, nằm đấy chờ canh tư mà đọc thẻ. Bông lên gian trống, Bà Diêm lên gian bình, Tiểu Lư kéo nước. Tín nằm bên cạnh nàng, ngủ co như con mèo. Vơi nằm nghe tiếng ròng rọc kêu, tiếng thanh la điểm từng điểm, tiếng trống canh hai, canh ba. Tất cả đều đúng. Nàng đã nhìn trăng qua song cửa, và tất cả đều đúng.

Trống canh tư vừa dứt, Bà Diêm xuống nghỉ. Vơi ngồi dậy buộc tóc để lên nhận thẻ thì nghe tiếng bước chân bà đi qua gian giữa, nghe cánh cửa buồng đông mở ra rồi đóng lại.

Rồi nàng nghe một tiếng khác.

Rất nhỏ, nghẹn, như tiếng một con vật bị thương cố không kêu. Nó đi qua vách gỗ mỏng giữa gian giữa và buồng đông, đi qua bóng tối, tới tai nàng. Vơi ngồi im, nín thở. Chỗ bên cạnh nàng còn ấm, Tín vừa trở dậy lên gian trống nhận ca.

Tiếng ấy kéo dài, đứt quãng, rồi lặng đi, rồi lại bật lên. Cuối cùng, giữa hai tiếng nấc, Vơi nghe Bà Diêm gọi một cái tên, khẽ như người gọi qua một bờ sông rất rộng:

– Tùng ơi…

— Hết chương 5 —

Mục lục Canh năm đến sớm

  1. 1Giọt nước chạy nhanh12 phút
  2. 2Giếng Đá Ong11 phút đọc
  3. 3Tiếng ròng rọc11 phút đọc
  4. 4Đất sét xanh10 phút đọc
  5. 5Bóng nắng giờ Ngọ10 phút đọc
  6. 6Ống nghe áp cột10 phút đọc
  7. 7Thẻ Sương giáng10 phút đọc
  8. 8Trăng rằm chưa đứng đỉnh10 phút đọc
  9. 9Cha mày không ngã11 phút đọc
  10. 10Một canh mất tích10 phút đọc
  11. 11Nắp gỗ lim10 phút đọc
  12. 12Ổ khóa mọc trong đêm11 phút đọc
  13. 13Lệ đổi gác10 phút đọc
  14. 14Đêm dài nhất năm10 phút đọc
  15. 15Cây trâm đuôi phượng10 phút đọc
  16. 16Bánh của Quý phi, ngõ của Bếp10 phút đọc
  17. 17Nút quấn cổ tay10 phút đọc
  18. 18Con ve trong cổ áo10 phút đọc
  19. 19Chén trà gừng ở Phượng Nghi12 phút đọc
  20. 20Thử lòng người12 phút đọc
  21. 21Mẹ của Tín11 phút đọc
  22. 22Câu đố về trăng rằm10 phút đọc
  23. 23Hai túi bạc10 phút đọc
  24. 24Người không được đánh trống10 phút đọc
  25. 25Nước thì vào được10 phút đọc
  26. 26Giẻ tẩm dầu10 phút đọc
  27. 27Lò sưởi của Hoàng hậu10 phút đọc
  28. 28Phủ Thái úy không chờ10 phút đọc
  29. 29Ai ở trên lầu lúc lửa cháy10 phút đọc
  30. 30Bóng nắng trước mặt Tổng quản10 phút đọc
  31. 31Sáu lò than10 phút đọc
  32. 32Tay trái giữ mạng10 phút đọc
  33. 33Trống biến10 phút đọc
  34. 34Canh năm thật10 phút đọc
  35. 35Trước cửa Trai cung11 phút đọc
  36. 36Đêm dài nhất năm đã qua10 phút đọc
  37. 37Thẻ tiễn mới10 phút đọc

Về truyện này

Canh năm đến sớm là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →