Chương 21: Mẹ của Tín
– Một ngón tay. – Tào Lãm nói, giơ thẳng cánh tay ra trước mặt, dựng ngón trỏ lên, nheo một mắt sau ngón tay ấy như người ngắm bắn. – Tôi đứng ở lan can gian trống, phía tây, làm thế này. Trăng nằm ngay trên đỉnh núi Tây Bình, cái đỉnh cao nhất, chỗ có cái u như u vai trâu ấy. Còn cách đỉnh núi chừng một ngón tay. Không hơn.
Sáng mười lăm tháng Mười, anh ta chờ nàng ở cổng sân từ lúc nàng còn chưa gánh nước về tới. Mắt anh ta đỏ kè vì thức ca sau, cái mũ thư lại lệch xuống một bên, nhưng mặt hớn hở như đứa học trò vừa giải được bài.
– Lúc ấy là đúng canh năm? – Vơi hỏi.
– Đúng vạch. Tôi gọi xong, ông Quách đánh xong hồi đầu, tôi mới chạy lên. Chạy vội quá vấp cả vào bậc. – Anh ta xoa ống chân. – Trăng to lắm. Mờ, nhưng to. Như cái mâm đồng úp trên núi.
Vơi đặt đòn gánh xuống, đứng nhìn về phía tây. Giờ là ban ngày, dãy núi Tây Bình chỉ là một vệt lam nhạt sau tường thành. Nàng hình dung cái u vai trâu, cái mâm đồng úp trên ấy, một ngón tay ở giữa.
Đêm mười bốn tháng Mười, canh năm thật, trăng còn cách núi một ngón tay. Đêm mười bốn tháng Một là đêm Đông chí, đêm dài nhất năm. Đêm dài hơn thì canh năm đến muộn hơn. Trăng có thêm thời gian để xuống thấp. Một ngón tay ấy sẽ không còn nữa.
Trăng mười bốn chạm núi là canh năm. Gần như đúng câu của cha.
– Cô cần biết cái này làm gì? – Tào Lãm hỏi, giọng nhỏ lại.
– Để biết. – Nàng nói. – Thầy Tào, cảm ơn thầy. Thầy đừng kể với ai là thầy trèo lên nhìn trăng cho nô tì.
– Tôi không kể. – Anh ta gãi đầu. – Kể thì người ta cười tôi. Thư lại Khâm thiên giám mà đi ngắm trăng hộ một cô xách nước.
Gần trưa, lễ thay thẻ Tiểu tuyết. Lần này Văn Sĩ Trác không đánh rơi phao. Ông ta làm chậm, kỹ, đọc to từng chữ trong sách lễ, Tào Lãm đứng bên cầm thẻ như cầm một cây nến. Vơi đứng ở góc gian bình như mọi lần. Lúc cắm thẻ Tiểu tuyết vào phao, Văn Sĩ Trác ngẩng lên nhìn nàng. Không phải cái liếc của người khinh một đứa tạp dịch tò mò, như hồi tháng Chín. Ông ta nhìn lâu, lâu như người đi chợ nhìn một con gà, ước xem nó nặng mấy cân. Rồi ông ta liếc ra cây cột Cấn sau lưng Nhật bình, và lại nhìn nàng.
Thằng Lư đã báo rồi, nàng nghĩ. Thứ nước nàng đổ vào đầu máng sáng mùng mười cũng đã chảy tới nơi.
Hai ngày sau đó, Vơi để ý Tín.
Con bé gầy đi. Bữa cơm nó chỉ ăn nửa bát, đêm nằm cạnh nàng thì trở mình suốt. Có lúc nàng nghe nó lẩm bẩm trong mơ, toàn những tiếng không thành chữ. Đánh la thì tay nó run, có đêm Tào Lãm phải gọi lại điểm hai lần nó mới nghe. Bông bảo nó ốm, bắt nó uống nước gừng của Hoàng hậu cho. Tín cầm bát nước gừng, nhìn một lúc, rồi đổ đi khi Bông quay lưng.
Vơi thấy. Nàng không nói gì.
Nàng nghĩ rất lâu về cách nói chuyện với Tín. Nàng có thể đến thẳng Cung chính ty, đứng trước mặt Quản Bội Hoàn mà nói: con Tín báo với đại nhân, tôi biết rồi. Nhưng thế thì Bội Hoàn sẽ biết nàng đã thử. Và mẹ Tín vẫn ôm chậu áo gấm ở giàn phơi sau Phượng Nghi. Nàng có thể mắng Tín, dọa Tín, như Bông vẫn mắng Tiểu Lư. Nhưng Tín không phải loại người mắng thì nói. Tín là loại người mắng thì khóc, rồi đi kể.
Cha nàng có lần bảo: con suối bị đá chặn thì đừng đập đá, đập vỡ thì nước tràn lung tung. Tìm chỗ nó muốn chảy mà khơi.
Chiều mười bảy, gió bấc ngừng thổi. Trời lặng, lạnh, nắng vàng nhạt như nước chè loãng. Đến lượt Tín đánh chuông chiều. Vơi lên gian trống với con bé, bảo lên giúp lau trống thay lão Quách.
Trên gian trống, nhìn ra được cả cấm thành. Những mái ngói xám xếp lớp như vảy một con cá khổng lồ, những dãy hành lang đỏ, những cái sân lát gạch nhỏ như bàn cờ. Phía tây, dãy núi Tây Bình đã chuyển màu tím. Tín đứng cạnh cái chuông, chờ mặt trời chạm tường, tay cầm cái dùi gỗ.
Vơi lau mặt trống bằng miếng da hoẵng tẩm dầu, chậm, như lão Quách vẫn lau.
– Tín này. – Nàng nói. – Em có biết vì sao chị vào cung không?
Tín không quay lại.
– Dạ không.
– Ba năm trước, cha chị chết ở cái lầu này. Ngã từ giàn giáo mặt tây. Người ta gửi về nhà chị một cái tay nải với cái ống nghe. – Nàng lau một vòng quanh mép trống. – Chị mười sáu tuổi. Chị ôm cái ống ấy bốn mươi chín ngày. Rồi chị xin vào cung, xin về lầu Giọt, vì chị muốn biết cha chị chết thế nào. Hai năm chị kéo nước, chờ cái lầu này nói cho chị biết.
Tín đứng im. Cái dùi gỗ trong tay nó hơi run.
– Chị cũng có mẹ. – Vơi nói tiếp. – Mẹ chị mất từ lúc chị lên ba. Chị không nhớ mặt. Chị chỉ nhớ mùi tóc. Cha chị bảo mẹ gội đầu bằng nước bồ kết với lá sả.
Mặt trời chạm tường tây. Tín vung dùi. Chuông chiều vang lên, ngân rất dài, trôi qua những lớp mái, xa dần. Từ khắp các cổng, tiếng then cài vọng lại.
Khi tiếng chuông tắt hẳn, Vơi đặt miếng da xuống.
– Hôm mùng tám chị sang Phượng Nghi. – Nàng nói. – Ra về, chị đi qua giàn phơi của Ty Hoán y. Chị gặp mẹ em.
Tín quay phắt lại. Mặt nó trắng bệch như lần đứng ở chiếu nghỉ cầu thang đêm rằm tháng Chín.
– Mẹ em bảo chị nhắn em một câu. – Vơi nói chậm, rõ từng chữ. – Mẹ không sao đâu, em đừng lo. Em cứ làm như Quản đại nhân dặn. Đừng cãi, đừng khóc. Quản đại nhân hứa rồi, Tết này cho em về thăm nhà.
Cái dùi gỗ rơi khỏi tay Tín, lăn lốc cốc trên sàn gian trống.
Con bé không khóc ngay. Nó đứng đó, hai tay buông thõng, môi mím chặt, như người cố giữ một cái gì đó đang vỡ ra trong ngực. Rồi đầu gối nó khuỵu xuống. Nó ngồi bệt xuống sàn gỗ, cạnh cái chuông, ôm lấy hai đầu gối, và tiếng khóc bật ra, không to, nghẹn, như tiếng một con chó con bị giẫm phải chân.
Vơi ngồi xuống cạnh nó. Nàng không ôm nó. Nàng chỉ ngồi, vai chạm vai, nhìn ra cái sân lầu Chính Thời đang tím dần dưới kia.
Một lúc lâu, Tín mới nói được.
– Mẹ em làm cháy cái áo. – Nó nói qua tiếng nấc. – Tết năm ngoái. Áo đại triều của Hoàng hậu nương nương, gấm vàng thêu phượng. Mẹ em là bằng bàn là than, than nóng quá, cháy một vết bằng đồng xu ngay ở vạt trước. Áo ấy may mất nửa năm. Ty Hoán y bảo phải đánh năm mươi trượng rồi đuổi ra. Mẹ em yếu lắm, năm mươi trượng thì chết.
– Ai cứu mẹ em?
– Quản đại nhân. – Tín lau mặt bằng mu bàn tay, càng lau nước mắt càng nhòe. – Hồi ấy em còn ở Ty Hoán y với mẹ. Quản đại nhân cho người thêu đè một bông hoa lên chỗ cháy, ai cũng tưởng áo vốn thêu như thế. Không ai biết. Rồi Quản đại nhân gọi em đến, bảo: ngươi còn trẻ, mắt sáng, tai thính, ta cho ngươi sang làm ở lầu Chính Thời. Ở đấy có gì lạ thì đến kể. Không kể thì cái áo kia lại cháy lần nữa. – Nó nấc lên. – Tháng Giêng em sang lầu. Chị nhớ không, em sang lầu tháng Giêng.
Vơi nhớ. Một con bé gầy nhom, nhút nhát, hay khóc, mà Bà Diêm bảo là Nội vụ phủ gửi sang thay một đứa vừa được thả. Không ai nghĩ gì.
– Em kể những gì?
– Mọi thứ. – Tín nói. – Ai đến, ai đi. Bà Diêm xuống gian bể lúc nào. Thằng Lư đi đâu. Chị nhìn trăng. Chị hỏi quan bóng nắng. – Nó ngừng lại, rồi nói nhỏ hơn hẳn. – Quản đại nhân dặn: đêm nào có người xuống gian bể lâu, thì em lên gian trống, buộc cái khăn trắng của em vào cột lan can phía cổng sân. Có người đứng dưới ấy nhìn.
Vơi nhìn cái cột lan can phía cổng sân. Gỗ lim sẫm, mòn nhẵn tay người. Từ gốc ngô đồng dưới kia nhìn lên, một cái khăn trắng buộc ở đây sẽ rõ như một ngọn đèn.
– Đêm rằm tháng Chín, – nàng nói, – em buộc khăn.
Tín không trả lời. Nó vùi mặt vào đầu gối.
– Em đứng ở chiếu nghỉ cạnh lỗ kéo. – Vơi nói tiếp, giọng vẫn đều, đều như giọng Bà Diêm đọc sổ. Nàng không biết mình lấy đâu ra cái giọng ấy. – Em nghe bà nói với chị: canh năm, lúc trống khai môn ầm ầm, bà kể hết. Ai đặt làm cái ống. Ai ở trên lầu đêm cha chị chết. Em nghe hết. Rồi em lên gian trống, buộc khăn.
– Em không biết. – Tín ngẩng lên, mặt ướt đầm. – Chị ơi, em không biết. Em tưởng họ chỉ muốn biết. Quản đại nhân bảo em: ta chỉ muốn biết, ta không làm hại ai. Em tưởng thế. Em buộc khăn rồi em đánh la, em không dám nhìn xuống sân nữa. Đến sáng… đến sáng thì…
Nó không nói tiếp được.
Vơi ngồi im. Trời tối dần. Những ngọn đèn lồng dọc hành lang Thừa Vận được thắp lên, từng ngọn một, như những hạt cườm đỏ xâu trên một sợi chỉ dài. Dưới kia, ở gốc ngô đồng, không có ai đứng.
Bà Diêm đã nói nhỏ. Bà đã ngước lên lỗ kéo, nói to: chuột. Bà biết. Bốn mươi năm nghe giọt nước, bà đã nghe được tiếng một con bé mười bảy tuổi thở ở chiếu nghỉ tầng đất. Bà vẫn hẹn canh năm, vì bà nghĩ một đứa trẻ thì làm được gì.
Một đứa trẻ thì buộc được một cái khăn.
Vơi không giận Tín. Nàng đã nghĩ mình sẽ giận. Nàng đã nghĩ tới lúc biết chắc thì nàng sẽ muốn túm tóc con bé mà lôi xuống Cung chính ty. Nhưng ngồi đây, cạnh nó, nghe nó khóc như một con chó con bị giẫm chân, nàng chỉ thấy mệt. Mệt như người kéo ba mươi hai thùng nước.
– Tín. – Nàng nói. – Đêm Đông chí, Quản đại nhân có dặn em làm gì không?
Tín lắc đầu, nhanh, nhiều lần.
– Chưa. Chưa dặn gì. Chị ơi, em không biết gì về Đông chí cả.
– Khi nào dặn, em có kể với chị không?
Tín nhìn nàng. Trong bóng tối, đôi mắt to rụt rè của nó, đôi mắt giống hệt đôi mắt người đàn bà ôm chậu áo gấm ở giàn phơi, mở to, sợ hãi.
– Em… em còn mẹ. – Nó nói. – Chị ơi, em còn mẹ.
Vơi gật đầu. Nàng đứng dậy, nhặt cái dùi gỗ lăn ở chân chuông, đặt vào tay Tín, gập mấy ngón tay nó lại quanh cán dùi, như Quản Bội Hoàn đã gập tay nàng quanh cái ống nghe hôm nào.
– Chị không bắt em làm gì. – Nàng nói. – Chị chỉ muốn em biết là chị biết. Thế thôi.
Nàng quay người đi xuống cầu thang. Đến bậc thứ ba, nàng nghe Tín gọi sau lưng, giọng run run, khàn đặc vì khóc.
– Chị Vơi.
Nàng dừng lại.
– Chị đừng tin cái gì có mùi gừng. – Tín nói. Rồi nó quay mặt đi, nhìn ra phía Cung Phượng Nghi, nơi những ngọn đèn đầu tiên vừa sáng lên sau dãy tường cao.
— Hết chương 21 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe