Chương 16: Bánh của Quý phi, ngõ của Bếp
Quý phi Hách Lan Khê đang bóc một quả hồng.
Bà ngồi nghiêng trên cái sập gụ trải nệm gấm đỏ, hai ngón tay đeo hộ giáp bằng vàng nhọn như móng chim ưng. Bà khéo léo lột từng mảng vỏ hồng mỏng tang, để lộ cái ruột đỏ au mọng nước. Gian chính điện Lan Chi thắp tám ngọn nến đỏ to bằng cổ tay, sáng như ban ngày, ấm sực mùi trầm. Sáu cung nữ đứng hầu hai bên, không ai động đậy. Ở góc phòng, cạnh cái lư đồng, Lương Quế đứng khoanh tay, đầu cúi.
Vơi quỳ trên nền gạch bóng loáng, cách cái sập mười bước. Nàng nhìn xuống những viên gạch, thấy trong ấy phản chiếu ánh nến và bóng mình, đen và nhỏ.
– Ngẩng lên.
Nàng ngẩng lên. Quý phi ba mươi lăm tuổi, đẹp theo cái kiểu sắc cạnh, mày kẻ dài, môi tô son đỏ thẫm, mắt nhìn người như nhìn một món đồ ở chợ, xem nó đáng giá bao nhiêu. Bà cắn một miếng hồng, nhai chậm, nhìn Vơi.
– Ngươi là con bé cãi thằng Quế bằng bóng trăng.
– Bẩm, nô tì không dám cãi. Nô tì chỉ thưa.
– Thưa mà làm thằng Quế phải xin lỗi một đứa kéo nước trước mặt cả Cung chính ty. – Quý phi cười, cái cười ngắn và lạnh. – Hai mươi năm nay ta chưa thấy nó xin lỗi ai. Quế thúc, có phải không?
Lương Quế cúi thấp hơn.
– Bẩm nương nương, nô tài nhìn nhầm, đấy nhé.
Vơi nghe cái giọng ấy. Khàn, kéo dài hai chữ cuối. Nàng giữ cho mặt mình không đổi.
– Ngươi ra ngoài đi. – Quý phi phẩy tay. – Cả các ngươi nữa.
Lương Quế và sáu cung nữ lui ra. Cánh cửa khép lại. Trong gian điện chỉ còn tám ngọn nến, mùi trầm, Quý phi trên sập và Vơi quỳ dưới nền.
Quý phi đặt quả hồng ăn dở xuống cái đĩa sứ, lau tay vào khăn lụa.
– Ta hỏi ngươi một câu, ngươi trả lời một câu. – Bà nói. – Kim Thị Hạnh là người của ai?
– Bẩm, của Lan Chi ạ.
Quý phi bật cười, lần này to hơn.
– Ngươi tưởng ta ngu à? – Bà nói. – Một đứa cung nữ tạp dịch của ta, tháng trước gửi về nhà ba quan. Đi đêm, bảo là ta sai. Ta chưa bao giờ sai nó đi đâu quá cổng sau. – Bà nghiêng người về phía trước. – Ta biết trong nhà ta có chuột. Cung nào chẳng có. Ta chỉ chưa biết chuột ấy ăn thóc của ai. Rồi một đêm, con chuột ấy chết trong cái giếng ngay sau tường nhà ta, và cả cái cung này quay sang nhìn ta.
Vơi im lặng.
– Thằng Quế bảo nó say rượu ngã giếng. – Quý phi nói tiếp. – Ta không tin. Con bé ấy không uống rượu, nó bảo rượu làm nó đỏ mặt. Ngươi bảo nó đến lầu ngươi đưa bánh. Đưa bánh thì về. Nó không về. Vậy ở lầu ngươi nó đã làm gì?
– Bẩm, nô tì chỉ thấy Hạnh đưa bánh, nói chuyện với chị Bông, rồi đi.
– Đi đâu?
– Bẩm, đi xuống cầu thang.
Quý phi nhìn nàng rất lâu. Rồi bà ngả lưng ra sau, cầm lại quả hồng.
– Ngươi khôn. – Bà nói. – Khôn thì sống lâu. Nhưng ngươi nhớ cho ta điều này, con bé kéo nước. Kẻ nào thả một con chuột vào nhà ta rồi lại giết nó trước cửa nhà ta, thì kẻ ấy không phải muốn giết một con chuột. Kẻ ấy muốn cả thiên hạ nghĩ ta là con mèo.
Bà vỗ tay hai cái. Một cung nữ mở cửa bước vào, hai tay bưng một cái hộp sơn son nhỏ.
– Cho nó.
Cung nữ đặt cái hộp vào tay Vơi. Hộp nặng, thơm mùi đường và mỡ. Bánh in.
– Trong cung này, – Quý phi nói, cắn một miếng hồng, – người cho ngươi ăn chưa chắc là người không bỏ độc. Hộp này thì không. Ta không cần giết một đứa kéo nước, ta cũng không cần mua nó. Ta chỉ muốn nó biết là ta đã hỏi. – Bà phẩy tay. – Về đi. Mùa đông năm nay dài lắm. Ngươi giữ cái lầu của ngươi cho cẩn thận.
Vơi về đến lầu thì trống canh một vừa điểm. Bông đứng chờ ở cổng sân, mặt cắt không còn hột máu. Thấy nàng, chị chạy lại, sờ khắp người nàng như sờ một con gà xem có gãy cánh không, rồi nhìn cái hộp sơn son.
– Cái gì đây?
– Bánh in. Quý phi cho.
Bông giật cái hộp, mở ra, ngửi, rồi cầm một cái bánh lên, bẻ đôi. Chị nhìn ruột bánh rất lâu, rồi đưa lên miệng cắn một miếng nhỏ.
– Chị làm gì thế?
– Thử. – Bông nhai, nuốt, rồi chờ. – Tao mà lăn ra thì mày đừng ăn.
Chị không lăn ra. Cả lầu ăn hết hộp bánh trong ba ngày. Lão Quách bảo bánh Lan Chi ngon nhất cung.
Mùng một tháng Mười, Nội vụ phủ phát áo bông. Mỗi cung nữ một cái áo vải chàm lót bông mới, dày, ấm, còn thơm mùi bông phơi. Gió bấc đầu mùa đã về, thổi qua các mái ngói những tiếng hu hu như người khóc xa. Trên gian trống, ban đêm, đứng một canh là tê dại cả hai tay.
Đêm mùng ba, trăng non lặn sớm từ đầu canh một. Cả cấm thành tối đen như mực, chỉ còn đèn lồng treo dọc hành lang và ánh đuốc trên các chòi gác.
Đêm ấy Vơi kéo nước ca đầu, rồi được nghỉ. Tiểu Lư đọc thẻ ca đầu. Đến trống canh tư, nó giao thẻ cho Tào Lãm, xuống tầng đất. Nhưng nó không vào gian ngủ của thái giám sau hiên. Vơi nằm ở gian tây nghe tiếng chân nó đi qua gian giữa, ra cửa, xuống bậc thềm, rồi lẫn vào tiếng gió.
Nàng ngồi dậy, khoác cái áo bông mới, đi chân đất theo ra.
Ngoài sân tối om. Gió bấc lạnh cắt da. Nàng đứng ở cửa một lúc cho mắt quen với bóng tối, rồi thấy một cái bóng nhỏ đi nhanh dọc chân tường phía tây, về phía ngõ dẫn sang Ngự thiện phòng. Không cầm đèn. Nàng theo sau, giữ khoảng cách hai chục bước, đi trong bóng của bức tường.
Ngõ Bếp là con ngõ hẹp chạy sau dãy nhà của Ngự thiện phòng, ban ngày ngập mùi mỡ, mùi hành, mùi tro bếp. Ban đêm nó vắng tanh. Dọc ngõ xếp hàng chục cái chum sành lớn đựng nước, đựng tương, đựng dưa, cao ngang ngực người. Trên tường có giá gỗ treo muôi, treo môi, treo rổ rá. Ở cuối ngõ, có một cái cửa nhỏ thông sang phía sau kho của Cung Lan Chi.
Tiểu Lư dừng lại giữa ngõ, giữa hai hàng chum. Vơi nép vào sau một cái chum tương, cách nó chừng mười bước. Mùi tương chua nồng xộc vào mũi.
Một lúc sau, cái cửa nhỏ cuối ngõ mở ra. Một bóng người cao, trùm áo choàng sẫm màu, đi ra. Hài đế da trên nền gạch, không một tiếng động.
– Sao? – Bóng người hỏi. Thì thào. Khàn.
– Em thử rồi. – Tiểu Lư nói, giọng run vì lạnh hay vì sợ, nàng không biết. – Ba chìa, chìa nào cũng không vào. Khóa đồng hình con nghê, mới tinh. Không phải khóa của lầu. Lầu không có khóa ấy.
– Thế khóa ấy là của ai?
– Em không biết. Chắc người Cung chính ty. Hôm trước con Vơi bị Cung chính ty bắt rồi thả, có khi nó khai…
– Cung chính ty mà biết cái van ấy thì đã lôi cả lầu mày đi rồi, đấy nhé. – Người áo choàng nói. – Biết mà không lôi, khóa lại rồi để đấy, không báo ai, thì không phải Cung chính ty muốn bắt người. Là có kẻ khác muốn giữ cái van cho riêng mình. – Hắn im một lúc. – Hỏi cho ra. Khóa ấy là của ai, hỏi cho ra, đấy nhé.
– Dạ. Nhưng nếu không hỏi ra…
– Thì đêm ấy phá. – Hắn nói gọn. – Một nhát rìu. Đến lúc ấy cũng chẳng cần giấu nữa.
Vơi ngồi cứng người sau cái chum, hai tay bấu vào thành chum lạnh ngắt. Đến lúc ấy.
– Rạng sáng rằm tháng Một. – Người áo choàng nói tiếp, chậm, rõ từng chữ, như dặn một đứa trẻ học thuộc bài. – Sáng Đông chí. Từ trống canh hai thì mở, mở hết cỡ, không đóng, không rút. Đến lúc thẻ tới vạch canh năm, mày gọi. Thẻ đánh trống. Mày chỉ việc gọi theo thẻ. Trống khai môn sớm một canh, xe đồ tế vào Cửa Củi. Từ đấy trở đi không phải việc của mày nữa.
– Dạ. – Tiểu Lư nói. – Còn chị Vơi? Chị ấy hay nhìn trăng…
– Ông Trác lo rồi. – Người áo choàng cười khẽ trong cổ họng. – Sáng ấy nó không ở trên lầu. Nó đứng ở Cửa Củi, chờ xe nước suối, đấy nhé. Đứng ở đúng chỗ cổng mở.
Vơi thấy như có ai đổ một gáo nước đá từ gáy xuống tận gót chân.
Sáng ấy nàng đứng ở Cửa Củi. Khi cổng mở sớm một canh, khi xe đồ tế đi vào, khi những gì nằm trong xe đồ tế bước ra. Đứa con gái xem trăng, đứa đã từng bị Cung chính ty bắt vì phá đồng hồ, đứng ngay ở cổng. Sau đêm ấy, ai mở cổng cho giặc? Ai đã đổ nước cho thẻ chạy? Mọi ngón tay sẽ chỉ về một chỗ.
Nàng nhích người, rất chậm, định lùi ra phía sau chum.
Vạt áo bông mới của nàng dày hơn cái áo cũ, rộng hơn cái áo cũ. Nó vướng vào cái giá gỗ treo trên tường. Một cái muôi đồng tuột khỏi móc, rơi xuống, đập vào miệng chum, rồi lăn lông lốc trên nền gạch.
Tiếng đồng vang lên trong ngõ vắng như tiếng thanh la điểm canh.
– Ai?
Vơi không chờ. Nàng quay người chạy. Chân đất trên gạch lạnh, áo bông vướng víu. Sau lưng nàng có tiếng chân đuổi theo, tiếng hài đế da giờ đã kêu rõ trên gạch, nhanh, dài, của một người đàn ông chạy được. Nàng rẽ ở đầu ngõ, không rẽ về phía lầu mà rẽ sang trái, về phía Cửa Củi, vì nàng không muốn dẫn hắn về lầu, vì nàng không nghĩ được gì khác.
Bức tường kho củi hiện ra trước mặt, đen sẫm. Nàng lao dọc chân tường. Tiếng chân phía sau gần hơn.
Ở góc tường, một bàn tay từ trong bóng tối thò ra, túm lấy cánh tay nàng, giật mạnh. Nàng bị kéo tuột vào một hốc tường hẹp giữa hai đống củi, lưng đập vào gỗ. Một bàn tay khác bịt lấy miệng nàng, bàn tay to, chai sạn, có mùi da và mùi sắt.
Tiếng chân chạy ngang qua hốc tường. Chậm lại. Dừng. Im lặng. Rồi đi tiếp một quãng, lại dừng, rồi quay ngược về, xa dần, mất hút về phía ngõ Bếp.
Bàn tay trên miệng nàng không buông. Một giọng nói, rất khẽ, khô như vỏ củi, sát bên tai nàng:
– Đứng yên.
Vơi đứng yên. Nàng nhận ra cái giọng ấy. Nàng nhận ra mùi da của bộ giáp sờn vai.
Một lúc lâu, bàn tay mới rời khỏi miệng nàng. Đổng Viễn đứng trước mặt nàng trong hốc tường tối, gần đến mức nàng thấy được vết sẹo trên cằm anh ta dưới chút ánh đuốc hắt từ chòi gác đằng xa. Anh ta nhìn nàng, rồi nhìn ra phía đầu ngõ Bếp, rồi nhìn lại nàng.
– Giờ thì cô nợ tôi một câu chuyện thật. – Anh ta nói.
— Hết chương 16 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe