Chương 15: Cây trâm đuôi phượng
Cái phao gỗ tuột khỏi tay Văn Sĩ Trác, rơi tõm xuống bình Thụ, nước bắn lên ướt cả vạt áo triều phục của ông ta.
Không ai dám cười. Hai thư lại cúi gằm mặt. Tào Lãm đứng cạnh, tay ôm cái thẻ mới, mặt đỏ như gấc. Văn Sĩ Trác lấy khăn tay lau vạt áo, chậm rãi, như người lau một vết mực trên trang sách quý, rồi xắn tay áo thò vào bình mò cái phao lên.
Sáng ba mươi tháng Chín, vào tiết Lập đông. Lần đầu tiên sau bốn mươi năm, lễ thay thẻ ở lầu Chính Thời không do Chưởng khắc làm. Văn Sĩ Trác tự làm, vì lầu chưa có Chưởng khắc mới, mà ông ta thì không muốn để ai khác chạm vào cái thẻ. Ông ta thắp hương, vái ba vái, rút thẻ Sương giáng ra, giơ lên cho hai thư lại xem, đưa cho Tào Lãm mang xuống giá. Tào Lãm mang lên cái thẻ mới.
Vơi đứng ở góc gian bình với cái thùng nước suối vừa đổ xong. Nàng nhìn cái thẻ trong tay Tào Lãm, rồi nhìn kỹ hơn.
Nàng không biết chữ. Cái thẻ gỗ nhỏ treo ở đầu mỗi thẻ tiễn, khắc tên tiết, đối với nàng chỉ là mấy nét vạch. Nhưng hai năm nay, nàng là người mang thẻ lên xuống cái giá ấy hai mươi tư lần một năm. Nàng biết cái giá có hai mươi tư rãnh, xếp từ trái sang phải theo thứ tự các tiết. Nàng biết rãnh nào đựng thẻ nào bằng vị trí của nó, như người ở bản biết nhà nào là nhà ai bằng cái gốc cây trước cổng. Và nàng biết thẻ Lập đông, vì cái thẻ ấy có một vết sẹo nhỏ ở đầu trên, chỗ con mọt tre đục từ hồi nào không ai nhớ.
Cái thẻ trong tay Tào Lãm không có vết sẹo.
Nàng lách lại gần, đứng sau lưng anh ta một chút, nói khẽ đến mức chỉ người đứng sát mới nghe:
– Bẩm, thẻ ấy không phải thẻ Lập đông. Thẻ Lập đông đầu có vết mọt.
Tào Lãm giật mình, cúi xuống nhìn cái thẻ gỗ nhỏ treo ở đầu, đọc thầm. Tiểu tuyết. Mặt anh ta từ đỏ chuyển sang trắng. Anh ta liếc nhanh sang Văn Sĩ Trác, ông ta vẫn đang lau tay, chưa ngẩng lên. Tào Lãm không nói gì, đi nhanh xuống cầu thang. Một lúc sau anh ta quay lên với cái thẻ khác, đầu có vết mọt, đưa cho Văn Sĩ Trác bằng hai tay. Lúc đi ngang qua Vơi, anh ta cúi đầu với nàng một cái rất nhanh, rất nhỏ, như người ta cúi đầu với ân nhân mà không muốn ai thấy.
Văn Sĩ Trác cắm thẻ vào phao, thả phao vào bình. Cái thẻ đứng lên trên mặt nước.
– Thẻ Lập đông, đúng mẫu Khâm thiên giám. Ghi.
Lễ xong, ông ta đi, áo bào ướt một vạt. Tào Lãm ở lại, lúng túng một lúc, rồi đến bên Vơi, hỏi nhỏ: cô không biết chữ thật à? Nàng gật đầu. Anh ta lắc đầu như không tin nổi, rồi ra án thư ngồi ghi sổ, thỉnh thoảng lại ngẩng lên nhìn nàng.
Vơi xuống tầng đất, đứng trước cái giá thẻ. Hai mươi tư cái rãnh. Thẻ Hàn lộ, thẻ Sương giáng, thẻ Tiểu tuyết, thẻ Đại tuyết. Rồi thẻ Đông chí. Nàng nhìn cái thẻ ấy rất lâu. Một que tre vàng mật, vạch canh xếp thưa nhất trong cả hai mươi tư cái thẻ, vì đó là đêm dài nhất năm. Nó nằm im trong rãnh lót vải, chờ ngày rằm tháng Một.
Nếu người coi lầu còn không phân biệt nổi thẻ Lập đông với thẻ Tiểu tuyết, thì đêm Đông chí, ai sẽ là người nhìn cái thẻ này?
Buổi trưa, Bông đến tìm nàng, mặt nghiêm hẳn.
– Chiều nay em gái con Hạnh vào nhận hòm đồ ở Cửa Củi. – Chị nói. – Bà chưởng sự Lan Chi cho tao mang hòm ra, vì tao là đồng hương. Mày đi với tao.
– Em đi làm gì?
– Hòm nặng. – Bông nói. Rồi hạ giọng: – Với lại tao muốn mở ra xem một lần trước khi đưa cho nó. Tao không muốn mở một mình.
Cái hòm của Hạnh là một cái rương gỗ thông nhỏ, khóa bằng một cái chốt tre, đặt ở cuối dãy phòng ngủ cung nữ tạp dịch sau Cung Lan Chi. Bà chưởng sự là một người đàn bà béo, hiền, mắt sưng như vừa khóc. Bà giao cái rương cho Bông, dặn đưa tận tay người nhà, rồi quay vào, không hỏi gì.
Hai người khiêng cái rương ra tới một khúc hành lang vắng gần Cửa Củi, chỗ có cái ghế đá dưới gốc cây sấu, thì Bông bảo dừng lại. Chị ngồi xuống ghế đá, đặt cái rương lên đùi, rút cái chốt tre ra.
Đồ đạc của một cung nữ tạp dịch hai mươi tuổi không có bao nhiêu. Hai bộ áo vải. Một cái yếm đào. Một cái lược gỗ thưa răng. Một túi vải nhỏ đựng mấy đồng tiền xu. Một nắm hoa cúc khô gói trong giấy dó, chắc hái từ Tết Trùng cửu năm ngoái. Một cái khăn tay thêu dở một bông sen. Và dưới cùng, gói trong một mảnh lụa xám, có một đôi guốc gỗ, một chiếc là chiếc người ta vớt được ở đáy giếng Đá Ong mấy hôm sau, chiếc kia là chiếc Bông rửa ở nhà xác.
Vơi cầm chiếc guốc Bông đã rửa lên. Kẽ guốc vẫn còn vương lại một chút sét xanh đã khô, cứng như vữa. Nàng đặt nó xuống.
Bông lục đến đáy rương, rồi dừng tay. Chị rút ra một cái gói nhỏ, dài bằng gang tay, bọc bằng một mảnh vải đỏ được khâu kín cả bốn mép. Chị cầm nó, nhìn Vơi.
– Nó đây.
Chị dùng móng tay rứt đường chỉ. Mảnh vải đỏ mở ra.
Một cây trâm bạc. Thân trâm dài, thẳng, đầu trâm uốn thành hình một cái đuôi chim phượng xòe ra năm cánh, mỗi cánh có chạm những đường lông nhỏ li ti, sắc sảo. Bạc trắng, sáng, chưa xỉn. Đó không phải loại trâm mà một cung nữ tạp dịch có thể mua bằng ba năm lương.
– Hôm nó khoe tao là cây này. – Bông nói khẽ. – Nó cầm lên một tí rồi giấu ngay.
Vơi đỡ cây trâm từ tay chị, lật mặt sau lên.
Ở chỗ thân trâm nối với đuôi phượng, phía mặt trong, có một cái dấu dập nhỏ bằng hạt đỗ xanh. Một cái đầu chim phượng ngậm một hạt châu. Nét dập sắc, rõ.
Bông nhìn thấy cái dấu ấy thì mặt chị biến sắc.
– Cái dấu này… – Chị giật lấy cây trâm, đưa sát mắt. – Con ngược, mày có biết cái dấu này không?
– Em không biết chữ.
– Không phải chữ. – Bông nói, giọng run run. – Tết năm ngoái, Hoàng hậu nương nương thưởng cho tất cả cung nữ hầu đại yến mỗi đứa một đồng bạc. Tao có đi bưng mâm, tao có một đồng. Mặt sau đồng bạc dập đúng cái hình này. Con phượng ngậm hạt châu. Dấu kho thưởng của Cung Phượng Nghi. Cả cung ai nhận đồ thưởng của Hoàng hậu cũng biết cái dấu ấy.
Hai người ngồi im dưới gốc sấu. Gió đầu đông thổi qua hành lang, lạnh hơn gió heo may, mang theo mùi khói bếp từ Ngự thiện phòng.
– Con Hạnh là người Lan Chi. – Bông nói, như nói với chính mình. – Lan Chi với Phượng Nghi như nước với lửa, cả cung ai chẳng biết. Quý phi nương nương mà thấy đứa hầu của mình cài trâm thưởng của Hoàng hậu thì đánh gãy tay nó. Đồ này sao lại nằm trong hòm nó?
Vơi không trả lời. Nàng nghĩ đến Hạnh đứng ở góc gian bình đêm Trùng cửu, mắt không cười, hỏi: ý em là có sớm không. Nàng nghĩ đến dấu guốc dừng ở cái cửa thông giếng. Hạnh không xuống gian bể vì tò mò. Hạnh xuống để xem một điều mình đã biết trước sẽ xảy ra. Hạnh xem cho một người nào đó. Và người ấy đã trả cho Hạnh ba quan, một cây trâm bạc, và một lời hứa được ra cung sớm.
– Chị Bông. – Nàng nói. – Em giữ cây trâm này được không?
Bông quay sang nhìn nàng.
– Để làm gì?
Vơi nhìn cây trâm trong tay mình, nhìn cái đầu phượng nhỏ ngậm hạt châu. Rồi nàng nhìn Bông. Hai năm nay, chị chửi nàng, giấu dép nàng, gọi nàng là con ngược. Rồi chị đứng trước Cung chính ty nói thật về tiếng ròng rọc. Chị dúi cho nàng nắm xôi. Chị đã nói: mày làm cái gì thì mày nói tao biết trước.
– Chị Bông. – Nàng nói. – Ông thợ ngã giàn giáo ở lầu mình ba năm trước, ông Bế Văn Đàng, là cha em.
Bông nhìn nàng trân trân. Một lúc lâu, chị không nói được gì. Rồi chị đặt cái rương xuống ghế đá, đứng dậy, đi ra phía lan can hành lang, quay lưng lại với nàng. Vai chị nhô lên hạ xuống mấy lần.
– Thế mà hai năm nay mày để tao chửi. – Chị nói, không quay lại, giọng nghèn nghẹt. – Mày để tao gọi mày là con ngược. Tao giấu dép mày. Mày không nói một câu.
– Nói ra thì em không ở lại được.
– Mày ở lại để làm gì?
– Để biết cha em chết thế nào.
Bông quay lại. Mắt chị đỏ, nhưng không khóc.
– Thế giờ mày biết chưa?
– Biết một nửa. – Vơi nói. – Cha em không ngã.
Bông đứng im rất lâu. Rồi chị đi lại, cầm cây trâm từ tay nàng, gói nó lại trong mảnh vải đỏ, gấp mép cho cẩn thận, rồi nhét vào trong ngực áo nàng, ấn bàn tay chị lên đó một cái.
– Mày giữ. Xong việc thì trả cho mẹ nó. – Chị nói. – Còn bây giờ khiêng cái rương này ra. Con bé em nó đứng chờ ngoài cổng từ trưa rồi.
Em gái của Hạnh là một con bé chừng mười lăm tuổi, đen nhẻm, chân đất, đầu quấn khăn nâu, đứng nép bên ngoài vạch đá Cửa Củi như sợ bước qua thì bị bắt. Thấy cái rương, nó ôm chầm lấy, khóc nấc. Bông ôm nó, vuốt lưng nó, nói với nó bằng cái giọng vùng ven sông mà Vơi chưa từng nghe chị dùng ở trong lầu. Mềm, chậm, kéo dài cuối câu như tiếng mái chèo.
Vơi đứng một bên, tay đặt lên ngực áo, chỗ có cây trâm. Nàng không thấy nhẹ lòng. Nàng thấy như mình vừa lấy trộm một cái gì đó của người chết.
Hai người về tới lầu Chính Thời khi mặt trời đã xuống ngang tường tây.
Ở cổng sân, dưới gốc ngô đồng đã trụi gần hết lá, có một người đứng chờ. Một cung nữ mặc áo lụa hồng đào, thắt lưng thêu chỉ bạc, tóc vấn cao cài hoa nhung. Không phải cung nữ tạp dịch. Cung nữ hầu cận. Thấy Vơi, cô ta bước lên một bước, nhìn nàng từ đầu đến chân bằng cái nhìn của người quen nhìn kẻ dưới.
– Ngươi là Bế Thị Vơi?
– Dạ.
– Đi theo ta. – Cô ta nói, quay người. – Quý phi nương nương truyền.
— Hết chương 15 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe