Chương 4: Con bé gọi bằng cô
Ông Liệu đứng ở đầu bến Cầu Gỗ, tay xách cái nón bảo hiểm thứ hai, nhìn chiếc tàu từ Lá Sen cập bến như nhìn một con tàu chở hàng lậu.
Cầm thấy ba từ khi tàu còn cách bờ năm chục mét. Ba thấp hơn trong trí nhớ, lưng còng thêm, cái áo thun ba lỗ màu cháo lòng, cái quần kaki xắn một ống cao một ống thấp. Ba đứng cạnh chiếc xe máy điện cũ, cái xe sơn lại màu xanh lá cây, ba vẫn chưa chịu bán. Ông không vẫy tay. Ông chỉ nhìn.
Lành đỡ cô bước qua tấm ván cầu tàu. Sáu ngày, cô đã đi được, chậm, chân vẫn hơi run khi bước xuống bậc. Lành dúi vào tay cô một túi thuốc, một tờ giấy hẹn tái khám, dặn thêm lần thứ năm chuyện cái vòng. Rồi cô gái nắm tay cô, bóp nhẹ.
– Chị về bình an nghe chị. Có gì gọi em.
Cầm đi về phía ba. Ba bước tới hai bước, rồi dừng.
– Về rồi đó hả. – Ông nói.
– Dạ. Con về rồi ba.
Ông đưa cô cái nón bảo hiểm. Ông nhìn bàn tay cô đưa ra nhận nón. Ông nhìn lâu, lâu quá mức cần thiết cho một cái nhìn. Rồi ông quay đi, ngồi lên xe.
Cô biết ba nhìn gì. Cái gò bàn tay trái, chỗ mà hai mươi bảy năm trước ông đã rút lưỡi câu ra.
Xe chạy dọc bờ kè sông Lưới, qua chợ cá đã vãn, qua mấy dãy nhà sàn sơn xanh đỏ, rẽ vào xóm Chài Cũ. Mùi xóm đập vào mặt Cầm trước cả hình ảnh của nó: mùi cá phơi, mùi nước mắm, mùi bùn sông lúc nước ròng, mùi khói củi. Cái mùi đó không thay đổi. Cô nhắm mắt lại, và trong mấy giây cô là đứa bé tám tuổi ngồi sau xe đạp của ba, chân đá đá vào bánh xe.
Nhà ba vẫn là căn nhà gỗ hai tầng ở cuối xóm, sát bờ sông. Cái mái tôn đã thay mới, sáng loá. Cây bàng sau nhà to hơn, cành vươn che kín nửa sân. Ở góc sân, dưới gốc bàng, có một chiếc xuồng máy úp ngược, phủ tấm bạt xanh.
Cầm nhìn chiếc xuồng. Ba thấy cô nhìn, nhưng không nói gì.
Trong nhà mát và tối. Cái bàn thờ mẹ vẫn ở chỗ cũ, bát nhang mới thắp, khói còn vương. Tấm ảnh mẹ cười hiền, cái răng khểnh. Bên cạnh có thêm một tấm ảnh nữa mà Cầm chưa từng thấy. Là ảnh cô. Ảnh chụp ở đâu đó trên biển, cô đội nón lá, tóc dài bay về một phía, đang cười. Đó là ảnh của bản gốc, của người chết trong vụ Sao Biển Ba.
Không có ảnh của bản số Một.
– Ba chưa làm. – Ông nói từ sau lưng cô, như đọc được ý nghĩ của cô. – Chưa có xác. Tao không thờ người chưa có xác.
Cầm không biết nói gì. Cô thắp một nén nhang cho mẹ. Rồi cô thắp một nén cho chính mình. Tay cô run, que nhang cắm lệch.
– Con Rong đâu ba?
– Trên gác. – Ông hất hàm. – Nó biết mày về. Từ sáng tới giờ nó không xuống.
Một con mèo mướp từ đâu chạy ra, cọ vào chân cô, kêu ngao ngao. Con mèo này lạ. Nhưng cái kiểu cọ chân thì y hệt con mèo cũ.
Bữa trưa ba nấu canh chua cá đối, cá nục kho tiêu. Ba dọn ra bốn cái chén, rồi ngồi nhìn bốn cái chén, rồi cất bớt một cái. Ông leo lên cầu thang, gọi vọng lên.
– Rong. Xuống ăn cơm con.
Không có tiếng trả lời. Ông gọi lần hai, giọng không to hơn, chỉ chậm hơn.
– Ông đếm tới ba.
Trên gác có tiếng dép lẹp xẹp. Rồi Rong xuất hiện ở đầu cầu thang.
Cầm đứng dậy khỏi ghế mà không biết mình đứng dậy.
Con bé cao. Cao hơn mọi hình dung của cô, cao tới mức cô phải ngước lên một chút. Chân tay dài nghêu, gầy nhom, đầu gối có hai vết trầy đã lên da non. Tóc không còn cắt bằng như cái chén úp mà buộc túm đuôi gà, lơ thơ mấy sợi tóc con hai bên mai. Con bé mặc áo thun trắng in hình cá heo, quần đùi vải. Mặt con bé dài ra, cằm nhọn ra, cái miệng thì vẫn là cái miệng của Nguyên.
Con bé đi xuống từng bậc, chậm, mắt nhìn chân mình. Đến bậc thứ ba, bậc gỗ kêu cót két mà Cầm nhớ rõ, con bé bước qua nó, không dẫm lên.
Rồi nó đứng dưới chân cầu thang, cách cô ba bước, hai tay nắm vạt áo.
– Con chào cô. – Rong nói.
Cầm đứng đó. Cô đã nghĩ suốt sáu ngày về giây phút này. Cô đã tập nói trong bóng tối không chỉ câu con cá rô đồng mà cả câu "Rong ơi, mẹ về rồi". Cô đã nghĩ con bé sẽ khóc, hoặc sẽ chạy trốn, hoặc sẽ đứng im. Cô không nghĩ tới chữ "cô".
– Rong. – Cô nói. Chỉ một chữ, mà giọng cô đã vỡ. – Mẹ...
– Con chào cô. – Rong nhắc lại, lần này nhìn thẳng vào mắt cô, rành rọt như đọc bài.
Ông Liệu đặt nồi canh xuống bàn, cái nồi nhôm va vào mặt bàn đánh cạch.
– Ăn cơm.
Bữa cơm đó dài như một buổi họp. Ông Liệu gắp cá cho Rong, gắp cá cho Cầm, không nói câu nào. Rong ăn nhanh, cắm cúi, mắt không ngẩng lên khỏi chén cơm. Cầm cầm đũa bằng tay phải, tay run, hạt cơm rơi lả tả trên mặt bàn. Lần thứ ba cô làm rơi miếng cá, Rong ngẩng lên nhìn tay cô. Con bé nhìn chằm chằm, mắt mở to, như nhìn một con vật lạ.
Rồi con bé lấy cái muỗng của mình, đặt bên cạnh chén cô, không nói gì.
– Cảm ơn con. – Cầm nói.
Rong cúi xuống ăn tiếp. Nhưng tai con bé đỏ lên.
Ăn xong, Rong rửa chén. Con bé rửa chén thành thạo như một người lớn, đứng trên cái ghế đẩu nhựa, tay áo xắn lên, xếp từng cái chén úp vào rổ theo thứ tự lớn nhỏ. Cầm đứng ở cửa bếp nhìn. Năm tuổi tám tháng, con bé còn chưa biết cầm cái chén cho khỏi rơi. Ai đã dạy con bé xếp chén theo thứ tự như vậy? Cô biết câu trả lời. Chính là cô. Một cô khác.
Đầu giờ chiều, bà Tám bán nước mía nhà bên ghé qua, tay cầm một bịch bánh tráng nướng, miệng nói là mang cho con Rong. Bà đứng ở ngạch cửa, nhìn Cầm từ đầu tới chân, rồi từ chân lên đầu.
– Trời đất. – Bà nói. – Y chang. Y chang con Cầm hồi mới cưới. Mà tóc dài lại rồi kìa.
– Dạ con chào bà Tám.
– Ờ. Ờ. – Bà gật gật, mắt vẫn không rời mặt cô, rồi hạ giọng như sợ ai nghe. – Lần này con nhớ giữ mình nghe con. Xóm này ai cũng thương con, mà ba lần là nhiều quá rồi. Ông già con chịu không nổi đâu.
Bà dúi bịch bánh vào tay cô rồi đi về, vừa đi vừa ngoái lại. Cầm đứng ở cửa, cầm bịch bánh tráng còn ấm. Ba lần. Trong mắt xóm Chài Cũ, cô là lần thứ ba của cùng một người.
Buổi chiều, ba dọn cho cô cái phòng phía sau nhà, phòng ngày xưa mẹ hay ngồi khâu lưới. Cái giường gỗ, cái tủ áo, cửa sổ nhìn ra gốc bàng và chiếc xuồng úp. Phòng cũ của cô trên gác giờ là phòng của Rong.
– Đồ của cô ấy tao để hết trên đó. – Ba nói. – Con nhỏ không cho ai đụng.
Cô ấy. Ba cũng gọi là cô ấy.
Lúc ba đang trải chiếu, Cầm lấy chiếc thuyền khăn giấy từ túi áo ra, đặt lên mặt tủ.
– Ba. Hôm Trung thu ba lên thăm con, ba có để cái này trên bậu cửa sổ không?
Ông Liệu ngừng tay. Ông nhìn chiếc thuyền, rồi bước lại, cầm lên, xoay xoay giữa hai ngón tay chai sần. Ông nhìn cái nếp gập ở đáy rất lâu.
– Không. – Ông nói. – Tao gấp thuyền mà bằng khăn giấy hồi nào. Khăn giấy mềm như bún.
– Vậy ai gấp?
Ông nhìn cô. Rồi ông đặt chiếc thuyền trở lại lên tủ, cẩn thận như đặt một món đồ dễ vỡ.
– Thì mày gấp chứ ai. – Ông nói. – Hay con kia gấp. Trên đời chỉ có tao với tụi bây gấp được.
Ông đi ra, kéo cửa lại.
Cầm ngồi trên mép giường, nhìn chiếc thuyền. Tao với tụi bây. Ba nói "tụi bây" như thể cô và bản số Một là hai đứa con gái. Mà có lẽ trong lòng ông, cũng đã thành ra như vậy.
Tối, ba đi họp tổ dân phố. Ông đi lúc bảy giờ, dặn cô khoá cửa, dặn Rong tắm rửa rồi học bài. Căn nhà còn lại hai người và con mèo mướp.
Cầm ngồi ở bàn ăn dưới nhà, giả vờ đọc tờ giấy hướng dẫn dùng thuốc lần thứ tư. Trên gác có tiếng Rong đi lại, tiếng ghế kéo, tiếng nước chảy trong phòng tắm. Rồi im. Rồi một lúc lâu sau, có tiếng dép lẹp xẹp xuống cầu thang. Con bé lại bước qua bậc thứ ba, không dẫm lên.
Rong đứng ở chân cầu thang, tóc ướt, mặc bộ đồ ngủ màu vàng in hình những ngôi sao. Con bé ôm một cái gối trong lòng. Cái gối bọc vải hoa nhỏ màu xanh, Cầm không nhận ra.
– Cô ơi. – Rong nói.
– Dạ. – Cầm đáp, rồi thấy mình vừa "dạ" với con gái mình.
– Cô có biết bài ru không?
Cầm đặt tờ giấy xuống. Tim cô đập nhanh, con số trên cổ tay nhảy lên chín mươi mấy.
– Bài ru thuyền giấy hả con? Mẹ... cô biết.
– Cô hát đi.
Con bé không lại gần. Nó đứng nguyên ở chân cầu thang, ôm gối, chờ.
Cầm hắng giọng. Cái cổ họng mới chưa từng hát. Cô không biết nó sẽ ra tiếng gì. Cô đã hát bài này hàng ngàn đêm, từ hồi Rong còn đỏ hỏn, hát trong bóng tối, hát khi đang bế con đi quanh phòng, hát khi chính cô cũng gật gù muốn ngủ. Cô hát nó như thở.
Cô hát.
– Ầu ơ... Rong ơi con ngủ cho mềm, thuyền hai mũi mẹ gấp đêm bên giường. Mũi này ra tận đại dương, mũi kia chở mẹ theo đường về con...
Giọng cô run, mỏng, lạc ở chữ "đại dương". Nhưng nó vẫn là bài ru đó, đúng từng chữ, đúng chỗ ngân dài ở chữ "con", đúng cái láy nhẹ ở cuối mà Rong hồi nhỏ hay bắt chước.
Cô hát xong. Căn nhà im phăng phắc. Ngoài sông có tiếng máy ghe xa xa.
Rong đứng im, ôm chặt cái gối. Mắt con bé đỏ lên, nhưng không khóc.
– Cô hát thiếu. – Con bé nói.
– Thiếu? – Cầm hỏi. – Thiếu chỗ nào con? Bài này có bốn câu thôi mà. Mẹ đặt mà...
– Cô hát thiếu.
Rong quay lưng, chạy lên cầu thang, bước thật dài qua bậc thứ ba. Cánh cửa phòng trên gác đóng sập lại.
Cầm ngồi một mình dưới nhà. Cô lẩm nhẩm lại bài ru, một lần, hai lần, ba lần. Bốn câu. Lục bát. Cô đặt nó năm sáu mươi mốt, ngồi bên cái nôi, viết lên mặt sau tờ hoá đơn tiền điện. Bốn câu. Không có câu nào khác.
Theo những gì cô nhớ, tới đêm trăng rằm năm sáu mươi sáu, bài ru này chỉ có bốn câu.
— Hết chương 4 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe