Chương 36: Tết ở xóm Chài Cũ
Sáng mồng Một, trời chưa sáng hẳn, ông Liệu dọn ra chín cái chén, và ông không phải ngồi nhìn chúng lâu.
Ông đếm một lần, bằng ngón tay, đứng giữa gian nhà, đèn dầu trên bàn thờ hắt ánh vàng lên tường. Ông. Con lớn. Hai đứa sau. Con Rong. Thằng Nguyên. Bà Bảy với thằng Kình, ngủ dưới phòng sau từ chiều ba mươi. Bà Tám nhà bên, Tết này ở một mình, ông đã kêu qua. Chín. Ông đặt chín đôi đũa lên chín cái chén, so cho thẳng hàng. Rồi ông đi bắc nồi nước pha trà.
Thu thức dậy vì tiếng ấm nước reo dưới bếp. Đêm qua cô về ngủ ở nhà, trên tấm nệm dưới sàn cạnh giường Rong, như hồi tháng Mười Một. Con bé đã thò một bàn tay xuống mép giường lúc nửa đêm, cô đã nắm lấy, và tới sáng hai bàn tay vẫn còn nắm.
Cô gỡ tay ra, nhẹ, rồi đi xuống. Bậc thứ ba kêu cót két.
Dưới nhà, Hạ đã ngồi ở bàn ăn, ly cà phê muối trước mặt. Ít muối, nhiều kem. Hạ đẩy ly thứ hai sang chỗ Thu, không nói gì. Hai người ngồi uống cà phê trong gian nhà còn tối, nhìn ra khung cửa sau, nơi gốc bàng đang hiện dần ra trong cái xám xanh của buổi sớm.
Bàn thờ đã khác.
Cái ảnh mẹ vẫn ở chỗ cũ, cười hiền, cái răng khểnh. Bát nhang mới thắp, khói còn vương. Nhưng cái khung ảnh bên cạnh, cái ảnh người đàn bà đội nón lá đứng trên biển, tóc dài bay về một phía, không còn nữa. Ông Liệu đã gỡ nó xuống một buổi chiều tháng Mười Một, không nói với ai, cất vào cái album bìa da cũ dưới ngăn tủ. Chỗ đó bây giờ là cuốn sách bản giấy, bìa màu xanh nước biển, "Mùa cá cơm ở Gành Hàu", dưới tên sách có một dòng chữ nhỏ.
Chị đứng trước bàn thờ từ bao giờ, Thu không biết. Chị mặc cái áo bà ba màu nâu mới, bà Bảy mang lên từ cồn, may tay. Chị nhìn tấm ảnh mẹ. Rồi chị nhìn cái chỗ trống bên cạnh, chỗ có cuốn sách. Rồi chị đưa tay lên, sửa cái bát nhang cho ngay, như mẹ vẫn sửa.
Bảy giờ, có tiếng gõ cổng. Ba tiếng, chậm.
Ông Liệu ra mở. Thằng Đạm đứng ở cổng, áo sơ mi trắng cũ ủi thẳng nếp, tay xách một chai rượu đế buộc nơ đỏ. Bên cạnh là một người đàn bà gầy, nhỏ, tóc bạc, đứng dựa vào tay nó. Vợ nó.
Hai người đàn ông đứng nhìn nhau qua cánh cổng sắt.
– Xông nhà anh. – Thằng Đạm nói. – Anh biểu em ghé.
Ông Liệu mở rộng cánh cổng.
– Vô. – Ông nói. – Mày tới trễ ba cái Tết.
Thằng Đạm không ngồi lâu. Nó uống một chén rượu với ông Liệu ngoài hiên, ăn một miếng bánh chưng, nói chuyện máy ghe, chuyện cái xuồng mới bị trầy đáy, chuyện cái quạt trần trong phòng xử. Nó không nói chuyện Toà. Ông Liệu cũng không hỏi. Lúc ra về, đi ngang qua bàn ăn, nó dừng lại trước chị.
Chị nhìn nó. Không nhận ra. Chị chỉ nhìn bàn tay phải của nó, cái vết sẹo chạy ngang mu bàn tay.
Rồi chị đưa tay ra, chạm vào vết sẹo đó, nhẹ, như người ta chạm vào một cái vảy đã khô.
Thằng Đạm đứng yên. Rồi nó cúi đầu, thật thấp, rồi đi ra cổng, không ngoái lại, dắt vợ đi dọc con hẻm về phía bờ sông.
Gần trưa, Nguyên tới. Anh mặc cái áo sơ mi caro xanh cũ, cổ áo sờn. Thu biết anh có áo mới, Rong kể. Anh vẫn mặc cái áo cũ.
Chị thấy anh bước vào thì đứng dậy khỏi ghế đẩu. Chị đi tới, đứng trước mặt anh, đưa hai tay lên, kéo cái cổ áo sờn cho ngay. Như sáng hôm phiên khẩn chị sửa cổ áo cho ba. Rồi chị gật đầu một cái, hài lòng, quay về ghế.
Nguyên đứng nguyên chỗ cũ. Anh không nói gì. Hai tai anh đỏ lên, y như tai con Rong hôm cô làm rơi miếng cá.
Trước bữa trưa, ông Liệu cầm cái búa với hộp đinh ra chân cầu thang.
– Bậc thứ ba. – Ông nói. – Lỏng ba chục năm rồi. Năm mới tao đóng lại.
Rong đang ở trên gác chạy xuống, nghe thấy thì đứng sững ở bậc thứ tư.
– Ông đừng.
Hạ đứng ở cửa bếp. Thu đứng ở bàn ăn. Hai người cùng nói, cùng một lúc:
– Ba đừng.
Ông Liệu nhìn ba đứa, búa còn giơ lửng lơ. Rồi ông hạ búa xuống, lắc đầu, lẩm bẩm gì đó về cái nhà này toàn đàn bà.
Rong ngồi xuống bậc thứ hai, đặt hai tay lên bậc thứ ba, lần ngón tay dọc mép trong tấm ván. Con bé không cần dũa móng. Con bé biết chỗ. Tấm ván nhấc lên. Cái hộp thiếc in hình cô gái cầm quạt nằm trong khoảng tối, rỉ sét ở các góc.
Con bé mở nắp. Lưỡi câu rỉ. Bi ve xanh. Con tem có hình con chim. Kẹp tóc con bướm đỏ của bà ngoại. Gói răng sữa. Chiếc thuyền ô ly "Rong gấp. 7 tuổi."
Con bé thò tay vào túi áo, lấy ra cái đồng hồ màu hồng, Toà đã trả. Con bé đặt nó vào hộp.
Hạ đi tới, ngồi xuống bậc thang bên cạnh con bé, đặt vào hộp cái hạt ghi âm tròn tròn bé xíu, cái nhãn băng keo cũ vẫn còn dính: "18/6. Để cho Cầm."
Thu đi lên phòng, lấy chiếc vòng hồi phục đã tắt trên mặt tủ, mang xuống, đặt vào hộp, cạnh cái hạt.
Chị đứng ở chân cầu thang, nhìn. Rồi chị đi lại, cúi xuống, thò tay vào túi áo bà ba mới, lấy ra một thứ nhỏ, đặt vào hộp. Cây kim đan lưới bằng tre, cái chị mang theo từ Cồn Rẽ, mang theo xuống chiếc xuồng đêm giông, vẫn còn nằm trong túi áo khi người ta kéo chị lên ghe.
Rong đậy nắp hộp, đặt nó xuống khoảng tối, đặt tấm ván lên, ấn nhẹ cho khớp. Cót két.
Bữa trưa mồng Một dài như một buổi họp, nhưng là một buổi họp người ta không muốn về. Chín cái chén. Bánh chưng ông Liệu gói với bà Tám, dưa hành bà Bảy muối ở cồn mang lên, thịt kho trứng Hạ kho từ đêm ba mươi. Canh khổ qua Thu nấu theo cách cô nhớ mẹ nấu, mà ông Liệu nói nhạt hơn mẹ. Cá bống kho tiêu cho Rong. Thằng Kình ăn bốn chén cơm. Bà Bảy kể chuyện ông Bảy Lạc hồi trẻ đi biển gặp cá voi, kể ba lần, lần nào con cá voi cũng to hơn. Chị ngồi cạnh bà Bảy, gắp thịt cho bà, gỡ xương cá cho bà, bằng ngón tay trái.
Rong ngồi giữa Hạ và Thu, như ngồi giữa hai cái cọc.
Ăn xong, Thu đi lên phòng, mở túi xách, lấy ra cái hộp thiếc nhỏ đựng trầu, nắp có hình hoa sen đã phai.
Cô mang nó xuống, đặt vào lòng bàn tay bà Bảy.
– Con mượn của bà. – Cô nói. – Con hứa trả. Con hứa đưa dì Câm về.
Bà Bảy nhìn cái hộp, rồi nhìn cô, đôi mắt có màng nheo lại.
– Dì Câm về rồi. – Bà nói. – Mà dì không về cồn. Dì về đây.
– Dạ.
Bà Bảy mở nắp hộp. Bên trong chỉ còn một chiếc thuyền giấy ố vàng, mép mủn như vải cũ. Chiếc thuyền gấp từ vé tàu Sao Biển Ba, ghế 14B, mặt sau có chữ "Rong" với một con rùa. Toà đã giữ nó ba tuần, chụp hình, ghi số, rồi trả lại.
Bà Bảy nhìn chiếc thuyền một lúc lâu. Rồi bà không cầm nó lên. Bà đóng nắp hộp, đẩy cái hộp sang cho chị.
– Của con Câm. – Bà nói. – Bà giữ ba năm cho nó. Giờ nó giữ.
Chị cầm cái hộp, mở ra, nhìn chiếc thuyền. Chị nhìn rất lâu. Rồi chị đóng nắp lại, đứng dậy, đi vòng qua bàn, tới chỗ Rong ngồi. Chị đặt cái hộp vào lòng bàn tay con bé, gập những ngón tay con bé lại quanh nó.
– Rong. – Chị nói.
Chiều mồng Một, bốn người ra bờ kè sông Lưới sau nhà.
Nắng hanh. Gió đông bắc thổi nhẹ, mang theo mùi khói nhang từ những căn nhà dọc bờ sông, mùi pháo giấy đỏ còn vương trên mặt đường. Nước đang ròng. Mặt sông Lưới chảy chầm chậm ra phía cửa biển, lấp lánh như vảy cá.
Ông Liệu, Nguyên, bà Bảy, thằng Kình ngồi trên hiên sau, nhìn ra. Không ai đi theo. Ông Liệu đã nói: để tụi nó.
Bốn người ngồi trên bờ kè, mỗi người một xấp giấy. Chị gấp bằng giấy báo cũ của ba. Hạ gấp bằng một tờ lịch thuỷ triều tháng Giêng của Ban đê. Thu gấp bằng một trang kịch bản thu đã dùng, chương mười, có những cái gạch chéo nhỏ chỗ lấy hơi, có một cái dấu ngã xiêu vẹo. Rong gấp bằng giấy học trò kẻ ô ly.
Bốn chiếc thuyền. Bốn cái nếp gập ngược ở đáy, cả bốn lật bằng ngón cái trái.
Không ai nói gì. Cái gì cần nói, bốn tháng nay đã nói, trước Toà, dưới gốc bàng, trên một cái ghe giữa giông. Bây giờ chỉ còn tiếng giấy sột soạt, tiếng nước vỗ vào chân kè, tiếng con mèo mướp kêu ngao ngao trên hiên.
Rong đặt chiếc thuyền của mình xuống nước trước. Rồi Hạ. Rồi Thu. Rồi chị.
Bốn chiếc thuyền giấy hai mũi nổi trên mặt sông Lưới, chao chao, rồi đứng yên, rồi bắt đầu trôi. Chậm. Theo con nước ròng, về phía cửa biển. Một chiếc xoay ngang, rồi xoay hẳn lại, cái mũi đang ở sau thành cái mũi ở trước. Nó không cần quay đầu. Nó cứ thế mà đi.
Rong ngồi nhìn bốn chiếc thuyền. Rồi con bé hát.
– Ầu ơ... Rong ơi con ngủ cho mềm. Thuyền hai mũi mẹ gấp đêm bên giường...
Giọng con bé mỏng, cao, trong như nước vũng giữa ghềnh đá. Con bé lấy hơi ở chữ "mềm", như mọi lần.
– Mũi này ra tận đại dương. Mũi kia chở mẹ theo đường về con...
Chị ngồi bên cạnh, ngân theo, không thành lời. Hạ không hát. Thu không hát. Hai người ngồi nghe.
Con bé ngừng một nhịp. Rồi hát tiếp.
– Ầu ơ... lỡ mai sóng lớn gió dằn. Mẹ về chẳng kịp, con nằm đừng lo...
Tới chữ "dằn", con bé ngân dài ra một chút, rồi hạ xuống. Như một người đàn bà trên một con tàu khách, một chiều mưa tháng Ba, gọi về cho con gái năm tuổi.
– Thuyền hai mũi chẳng cần đò...
Thu nghe con bé lấy hơi. Ngắn. Từ bụng. Trước chữ "thuyền".
– Mũi nào chạm bến cũng cho mẹ về.
Hết bài. Tiếng nước vỗ vào chân kè. Bốn chiếc thuyền giấy đã trôi xa, nhỏ lại, bốn đốm trắng trên mặt sông lấp lánh, gần tới khúc quanh chỗ cây bàng đầu xóm.
Rong đứng dậy, phủi quần. Con bé đứng trên bờ kè, chỉ tay ra sông.
– Mẹ ơi, – con bé gọi, – thuyền con chạy trước kìa!
Ba người đàn bà cùng ngẩng lên. Cùng một lúc.
— Hết —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe