Chương 17: Cồn Rẽ
– Đây. – Ông Liệu nói, và kéo cần ga về số không.
Chiếc ghe máy của thằng Lộc chậm dần, rồi trôi, chòng chành trên những con sóng lừng màu xanh xám. Tiếng máy nổ chuyển sang tiếng lục bục đều đều. Bên phải, mỏm Gành Én nhô ra biển như một cái mỏ chim khổng lồ bằng đá đen, sóng đập vào chân đá tung bọt trắng xoá. Bên trái là biển mở, mênh mông, không có gì cả.
Cầm ngồi ở mũi ghe, hai tay bám mạn. Cô không hỏi "đây là đâu". Cô biết.
– Tàu Sao Biển Ba chìm ở đây. – Ông Liệu nói. Ông không nhìn cô, ông nhìn ra biển. – Cách mỏm chừng hai hải lý. Sâu bốn chục mét. Người ta lặn xuống được tới xác tàu, mà không vô được trong. Năm người không tìm thấy.
Gió đông bắc thổi lạnh. Mặt biển nhấp nhô, xám bạc dưới bầu trời nhiều mây. Cầm nhìn xuống nước. Nước đục, không thấy gì hết. Ở đâu đó dưới đó, bốn chục mét, là con tàu mà người đàn bà mang tên cô đã ngồi lên, chiều mười một tháng Ba năm sáu mươi sáu. Ghế số mấy cô không biết. Người đó nhìn ra cửa sổ, có lẽ đang nghĩ về con gái.
Cô không nhớ gì về chuyến tàu ấy. Ký ức cuối cùng của cô là trăng rằm. Rồi không có gì. Rồi cô mở mắt ở phòng A-3.
Ông Liệu đứng im ở đuôi ghe một lúc lâu. Rồi ông lấy trong túi áo ra một nén nhang, châm bằng cái bật lửa, che tay cho gió khỏi tắt. Ông cắm nén nhang vào khe gỗ ở mạn ghe. Khói bay ngang, mỏng, tan ngay vào gió.
– Hồi đó tao không ra đây. – Ông nói. – Tao không dám.
Rồi ông kéo cần ga. Chiếc ghe chồm lên, quay mũi về phía tây nam.
Sáng thứ Bảy họ đi từ lúc năm giờ, khi trời còn tối. Ông Liệu mượn chiếc ghe của thằng Lộc, ghe máy dài tám mét, mui bạt, chắc hơn cái xuồng nhỏ. Cái xuồng của bản số Một vẫn nằm úp dưới gốc bàng, phủ bạt. Ông không cho ai đụng vào nó nữa. "Nó là bằng chứng," ông nói, như người đã nói chữ đó cả đời.
Nguyên tới đón Rong từ tối hôm trước. Con bé không chịu đi. Con bé đòi theo ra Cồn Rẽ. Con bé nói không có con thì bà Bảy không tin ai hết. Cầm quỳ xuống trước mặt con bé, ngang tầm mắt nó, và nói không. Lần đầu tiên cô nói "không" với con bé kể từ khi về. Con bé nhìn cô rất lâu. Rồi con bé lên gác, lục cục một lúc, đi xuống, dúi vào tay cô hai thứ.
Một tờ giấy học trò vẽ bằng bút chì màu. Một cái cồn cát hình trái chuối, một cây phi lao to ở đầu cồn, một căn nhà mái lá cạnh cây phi lao. Một mũi tên chỉ vào căn nhà, chữ viết nắn nót: "Nhà bà Bảy Én".
Và một chiếc thuyền giấy hai mũi, gấp bằng giấy màu xanh lá, đều tăm tắp.
– Cô nói với bà Bảy là con Rong gửi lời thăm. – Con bé nói. – Rồi cô đưa cái thuyền này cho dì Câm. Nói con gấp.
Cầm cầm chiếc thuyền xanh. Cô không nói với con bé rằng dì Câm không còn ở Cồn Rẽ. Cô không biết điều đó. Cô chỉ sợ điều đó.
Cái vòng hồi phục vẫn ở trên cổ tay cô. Cô đã nghĩ suốt đêm có nên tháo nó ra không. Tháo ra quá ba mươi phút, máy báo, người ta gọi. Không tháo, cái chấm trên bản đồ của Lành sẽ chạy dọc bờ biển, xuống Gành Én, xuống Cồn Rẽ. Cuối cùng cô để nguyên. Một người mới thức dậy ba tuần, đi ghe với ba ra biển câu cá ngày thứ Bảy. Không có gì lạ. Nếu có ai đó nhìn cái chấm ấy mà thấy lạ, thì chính cái sự thấy lạ ấy cũng là một câu trả lời.
Ghe tới Cồn Rẽ lúc gần chín giờ.
Cồn Rẽ là một dải cát dài nằm chắn ngang cửa sông Rẽ, như ai đặt một cái gối ôm khổng lồ giữa sông và biển. Một bên là biển xanh xám, sóng vỗ ì oạp. Một bên là lòng sông nước lợ màu nâu, phẳng lặng, có mấy hàng cọc tre nuôi hàu. Trên cồn, những nóc nhà mái tôn, mái lá lô nhô giữa rừng phi lao. Những tấm lưới xanh phơi trên cọc tre dọc bãi. Những tấm phên tre phơi cá cơm trắng xoá, mùi tanh mặn nồng nặc xộc vào mũi khi ghe còn cách bờ năm chục mét.
Ông Liệu cho ghe cập vào một cái bến nhỏ làm bằng mấy tấm ván ghép trên cọc gỗ. Mấy đứa con nít đang lội nhặt ốc ở mép nước ngóc đầu lên nhìn. Một bà đang lật cá trên phên ngẩng lên, nheo mắt.
Cầm bước lên bến, tay cầm tờ bản đồ của Rong. Cây phi lao to ở đầu cồn. Cô thấy nó ngay. Nó cao hơn hẳn những cây khác, ngọn nghiêng về phía tây nam vì bao nhiêu năm gió đông bắc thổi.
Cô đi dọc bãi cát về phía cây phi lao. Ông Liệu đi sau. Cát lún dưới chân, cái chân mới của cô đi trên cát vụng về, mấy lần trượt. Những người trên bãi ngừng tay nhìn theo hai người lạ. Một bà ôm cái thúng ốc đứng bật dậy, há miệng định nói gì đó, rồi lại thôi, chỉ nhìn chằm chằm vào mặt Cầm.
Căn nhà dưới gốc phi lao là căn nhà mái lá, vách ván, có cái hiên rộng lợp tôn. Dưới mái hiên, căng ngang từ cột này sang cột kia là một sợi dây cước. Trên sợi dây treo lủng lẳng hàng chục chiếc thuyền giấy.
Cầm đứng sững trước mái hiên.
Thuyền giấy hai mũi. Gấp bằng giấy báo, giấy lịch, giấy gói hàng, giấy vở học trò, giấy kẹo. Đủ màu. Đủ cỡ. Chiếc nào cũng có hai mũi vểnh lên y như nhau, chiếc nào đáy cũng có cái nếp gập ngược vào trong. Gió từ biển thổi qua, cả dây thuyền đung đưa, xoay xoay, va vào nhau sột soạt, như một đàn chim giấy đang đậu.
– Ai đó?
Một bà cụ bước ra từ trong nhà. Bà nhỏ thó, lưng còng gập, tóc bạc trắng búi củ hành, mặc áo bà ba đen, tay cầm cây kim đan lưới bằng tre. Mắt bà đục, có màng mỏng, bà phải nheo lại mới nhìn rõ.
Bà nhìn Cầm. Bà bước tới thêm một bước, rồi một bước nữa. Cây kim tre trong tay bà rơi xuống nền đất.
– Trời đất ơi. – Bà nói, giọng run run, miền biển nam, chữ nọ líu chữ kia. – Con Câm về hả con? Mà sao... sao con trẻ dữ vậy? Mặt con lành rồi hả?
Bà đưa bàn tay nhăn nheo lên, sờ vào má Cầm, vuốt chầm chậm, như tìm một cái gì đó trên da cô mà không thấy.
Rồi bà rụt tay lại.
– Không phải. – Bà nói. – Không phải con Câm. Cô giống con Câm. Mà cô trẻ hơn.
Ông Liệu bước lên, đứng cạnh Cầm. Ông lễ phép cúi đầu chào.
– Chào bà. Tôi là Liệu, ở xóm Chài Cũ trên Bến Lưới. Đây là con gái tôi. Nó tên Cầm.
Cầm mở tay ra, chìa chiếc thuyền giấy xanh lá.
– Bà Bảy. – Cô nói. – Con Rong gửi lời thăm bà. Con Rong gửi cái này cho dì Câm.
Bà cụ nhìn chiếc thuyền. Rồi bà khóc.
Họ ngồi trên chiếc chõng tre dưới mái hiên, dưới dây thuyền giấy. Bà Bảy Én rót nước chè xanh nấu trong cái siêu đất ra mấy cái ly sành sứt mẻ. Một thằng con trai chừng mười bảy tuổi, tóc nhuộm vàng hoe một chỏm, da đen nhẻm, từ ngoài bãi chạy vào, thấy Cầm thì đứng khựng lại, há hốc mồm.
– Thằng Kình, cháu nội tui. – Bà Bảy nói. – Nó quay cái phim con Câm hát đó.
Thằng Kình ngồi bệt xuống nền đất, nhìn Cầm không chớp mắt.
Bà Bảy kể. Bà kể chậm, lâu lâu dừng lại, nhìn ra biển, như người ta lần lại một mắt lưới bị rối.
Tháng Ba năm sáu mươi sáu, hai ngày sau cái đêm giông lớn, sáng sớm ông Bảy Lạc đi cào ốc ngoài mũi cồn. Ông thấy một người đàn bà nằm úp trên bãi, tay còn ôm cái phao cứu sinh màu cam. Mặt rách một đường dài, máu khô đen, mũi gãy, người lạnh ngắt mà còn thở. Ông vác về nhà. Hai ông bà đổ cháo, đắp thuốc lá, ủ chăn. Ba ngày người đó mới mở mắt. Mở mắt ra rồi không nói được. Không biết mình tên gì. Không biết mình ở đâu. Ai hỏi gì cũng chỉ lắc đầu, ú ớ.
– Mà nó hát được. – Bà Bảy nói. – Tối đó nó nằm, nó hát. Hát rõ ràng từng chữ. Ông Bảy nhà tui ngồi nghe mà khóc. Nói con này ai mà tội quá, không nói được mà hát được.
Người trong cồn gọi người đó là con Câm. Thằng Kình hồi đó mười bốn tuổi, thấy tờ giấy dán ở bến chợ trên đất liền, có số điện thoại của nhà gì đó nói ai thấy người mất tích trong vụ chìm tàu thì báo, có thưởng. Nó gọi. Người ta ghi tên, ghi chỗ, nói sẽ cho người xuống. Không ai xuống.
– Rồi tụi tui nuôi luôn. – Bà Bảy nói, giọng bình thản như kể chuyện nuôi một con mèo lạc. – Ba năm. Nó đan lưới giỏi lắm. Nó gấp thuyền giấy cho con nít trong cồn. Đứa nào cũng có một chiếc. Dây thuyền này là nó gấp đó. Tối nào nó cũng hát. Ông Bảy mất hồi tháng Giêng, nó ngồi bên quan tài hát suốt đêm.
Cầm ngồi im. Cô nhìn dây thuyền giấy đung đưa trên đầu.
– Rồi tháng Tư năm nay, có một người tới. – Bà Bảy nói, và nhìn thẳng vào Cầm. – Giống y cô. Mà tóc ngắn tới đây. – Bà đưa tay ngang cằm. – Nó tới, nó đứng ở chỗ cô đứng hồi nãy, nó nhìn con Câm, nó khóc. Khóc dữ lắm. Con Câm cũng nhìn nó. Hai đứa nhìn nhau như nhìn ma.
Bà nhấp một ngụm nước chè.
– Nó tới mấy lần. Có lần dắt theo con nhỏ, con Rong đó. Con Câm hát cho con nhỏ nghe, con nhỏ ôm con Câm khóc. Rồi tới tháng Sáu, ngày mấy tui không nhớ, nó tới đón con Câm đi. Nói đưa đi chữa bệnh, ngoài đảo, chỗ có máy móc tốt. Nói chừng Tết đưa về. – Bà ngừng lại. Giọng bà khàn đi. – Không thấy về. Đứa nào cũng không thấy về.
Không ai nói gì. Ngoài bãi, tiếng con nít cười đùa, tiếng sóng vỗ. Dây thuyền giấy va vào nhau sột soạt.
Bà Bảy đặt ly nước xuống chõng. Bà chống tay đứng dậy, đi vào trong nhà. Bà lục cục ở đâu đó một lúc lâu. Tiếng nắp rương gỗ mở ra, kẽo kẹt. Rồi bà đi ra, tay cầm một cái hộp thiếc nhỏ đựng trầu, nắp có hình hoa sen đã phai.
Bà mở nắp hộp, lấy ra một vật, đặt vào lòng bàn tay Cầm.
– Cái này trong túi áo con Câm, hôm ông Bảy vớt nó lên. – Bà nói. – Tui phơi khô, tui cất. Tính để dành, mai mốt có ai tới nhận nó thì đưa. Mà người tóc ngắn tới, tui quên mất. Giờ cô tới thì cô cầm.
Cầm nhìn xuống lòng bàn tay mình.
Đó là một chiếc thuyền giấy hai mũi. Nhỏ, cỡ ngón tay trỏ. Giấy đã ố vàng, nhăn nhúm vì nước biển rồi khô lại, mép mủn ra như vải cũ. Nhưng hai mũi thuyền vẫn còn vểnh lên. Cái nếp gập ngược ở đáy vẫn còn đó.
— Hết chương 17 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe