Chương 16: Bình xăng đầy và nước chảy ngược
Nguyên trải tờ hải đồ lên mặt chiếc xuồng úp, lấy bốn cục đá chặn bốn góc. Cầm thấy anh đã dùng bút chì vẽ lên đó một đường cong, từ mũi Gành Én vòng lên phía bắc, dài gần bằng gang tay.
Sáu giờ chiều thứ Sáu. Trời vừa tắt nắng, gió đông bắc lặng đi một chút, mặt sông Lưới phẳng như tấm kính đục. Ông Liệu treo cái bóng đèn trên cành bàng, dây điện kéo từ trong nhà ra, bóng đèn đung đưa, hắt ánh vàng lên ba cái đầu đang chụm vào nhau.
Anh tới lúc năm giờ rưỡi, đi bộ từ trạm tàu điện, áo sơ mi còn ướt mồ hôi ở lưng, ống quần dính bùn đê. Rong đang ngồi ở bậc thềm, thấy ba thì đứng bật dậy, chạy ra cổng, ôm ngang bụng anh, úp mặt vào áo anh. Anh xoa đầu con bé, cúi xuống nói gì đó, con bé gật gật. Cầm đứng trong bếp nhìn ra. Cô nhớ cái cảnh ấy. Ba năm rưỡi trước, chiều nào Nguyên đi làm về, con bé năm tuổi cũng chạy ra cổng ôm bụng ba y như vậy. Chỉ có điều hồi đó con bé chỉ ôm tới ngang đùi anh.
Rong nhìn cái ống giấy cuộn tròn kẹp dưới nách ba, hỏi là cái gì. Nguyên nói là bản đồ biển. Con bé đòi coi. Ông Liệu từ trong nhà nói vọng ra: "Lên gác học bài. Chuyện người lớn." Con bé phụng phịu, liếc Cầm một cái, rồi đi lên. Cầm nghe tiếng dép lên cầu thang, nhưng không nghe tiếng cửa phòng trên gác đóng lại.
– Đây là Gành Én. – Nguyên đặt ngón tay lên một điểm trên hải đồ. – Chỗ người ta thấy xuồng úp là đây, cách mỏm đá chừng ba trăm mét. Ghe cào của ông Chín Tửng thấy lúc ba giờ chiều, ngày hai mốt tháng Sáu. Ổng báo cứu nạn lúc ba giờ mười hai.
Anh lấy ra một xấp giấy in, những cột số dày đặc.
– Ban có mười hai cái phao đo dòng chảy thả dọc bờ, từ cửa sông Lưới xuống tới Cồn Rẽ. Mỗi giờ phao gửi về một lần, hướng chảy, tốc độ. Đây là số liệu cái phao số chín, nằm ngay ngoài Gành Én, từ nửa đêm hai mươi rạng sáng hai mốt tới sáu giờ chiều hai mốt.
Cầm nhìn những con số. Bốn mươi lăm độ. Năm mươi độ. Bốn mươi tám độ. Không phẩy bảy. Không phẩy tám. Không phẩy tám.
– Hướng đông bắc. – Nguyên nói. – Suốt cả ngày. Mùa gió tây nam, dòng ven bờ chảy lên phía bắc, đều như kim đồng hồ. Tốc độ trung bình không phẩy bảy tám hải lý một giờ.
Anh cầm cây bút chì, chỉ vào đường cong vẽ trên hải đồ.
– Theo lời khai của thằng Lộc, xuồng rời bến lúc trước bốn giờ rưỡi sáng. Chạy xuống Gành Én mất hai tiếng. Cứ cho là xuồng tới nơi lúc sáu giờ rưỡi, rồi gặp chuyện liền, úp liền. Từ sáu giờ rưỡi tới ba giờ chiều là tám tiếng rưỡi. Tám tiếng rưỡi, không phẩy bảy tám hải lý một giờ, là sáu phẩy sáu hải lý. Hơn mười hai cây số.
Ngón tay anh đi dọc đường cong, từ Gành Én lên tới một điểm gần cửa sông Lưới.
– Một chiếc xuồng úp ở Gành Én lúc sáu giờ rưỡi sáng thì tới ba giờ chiều phải nằm ở đây. Gần nhà mình. Không thể nào còn nằm cách mỏm Gành Én ba trăm mét.
Ông Liệu cúi sát xuống tờ hải đồ, mắt nheo lại sau cặp kính lão.
– Trừ khi nó thả neo. – Ông nói.
– Con cũng nghĩ vậy. – Nguyên nói. – Nên con hỏi ba.
Ông Liệu đứng thẳng dậy. Ông đi vòng ra đầu chiếc xuồng, quỳ xuống, thò tay vào cái hộc nhỏ dưới mũi, cái hộc có nắp bằng nhựa. Ông lôi ra một cái neo sắt bốn càng, gập gọn, cột dính với một cuộn dây neo màu cam.
– Neo còn nằm đây. – Ông nói. – Cột nguyên. Dây cuộn xuôi ngược. Chưa từng thả.
Ông lật cuộn dây trong tay. Cầm thấy cái kiểu cuộn ấy: một vòng xuôi, một vòng ngược, gọn gàng, phẳng phiu. Tay của bản số Một. Cuộn dây này chưa có ai đụng tới từ khi bản số Một cuộn nó.
Ba người đứng im dưới ánh bóng đèn đung đưa.
– Vậy là nó úp ngay trước khi ghe cào tới. – Cầm nói. – Úp ở đó, lúc gần ba giờ chiều.
– Hoặc úp sớm hơn một chút. – Nguyên nói. – Một tiếng. Cùng lắm là hai tiếng. Không thể là sáng sớm.
– Vậy từ sáng tới trưa nó ở đâu?
Nguyên không trả lời. Anh nhìn ông Liệu. Ông Liệu đang làm một việc lạ. Ông cúi sát vào cái cọc mũi của chiếc xuồng, cái cọc bằng inox nhỏ cỡ ngón tay cái, dùng để buộc dây khi cập bến. Ông lấy đèn pin trong túi quần ra, rọi vào đó. Rồi ông lấy cái móng tay cái, cạy cạy vào kẽ giữa cọc và thân xuồng.
Ông giơ lên một thứ gì đó cho hai người xem. Một nhúm sợi ni lông, mảnh như tóc, màu xanh dương, rối vào nhau.
– Dây kéo. – Ông nói. – Dây ni lông bện, loại tàu lớn dùng kéo. Xuồng này không có sợi dây nào màu xanh. Dây neo của nó màu cam. Dây buộc bến của nó màu trắng.
Ông xoay xoay nhúm sợi dưới ánh đèn pin.
– Dây kéo căng mà cọ vào cọc inox lâu thì để lại sợi trong kẽ. Tao làm thợ máy bốn chục năm, tao kéo tàu hư cả trăm lần. – Ông nói. – Có đứa nào cột cái xuồng này vô đuôi một chiếc tàu, kéo đi một đoạn dài. Kéo ra tới Gành Én. Rồi mở dây. Rồi lật.
Nguyên lấy từ túi áo ra một cái túi nilon nhỏ có khoá kéo, đưa cho ông. Ông bỏ nhúm sợi vào, kéo khoá lại.
– Con có thêm một thứ. – Nguyên nói, giọng chậm. – Con không chắc nó có nghĩa gì.
Anh rút từ xấp giấy ra một tờ khác, một hình in màu xám, những chấm sáng rải rác trên nền tối, như bầu trời đêm.
– Ban có cái radar nhỏ trên mỏm Gành Én, để theo dõi sóng lừng trước bão. Nó không phải để theo dõi tàu, nhưng tàu lớn đi qua thì nó cũng bắt được. Hình này là lúc mười hai giờ năm mươi trưa hai mốt tháng Sáu.
Anh chỉ vào một chấm sáng hình bầu dục ở rìa trên tấm hình.
– Một chiếc tàu cỡ mười lăm mét, từ phía bắc xuống. Nó không phát tín hiệu nhận dạng. Tàu nào chạy trên vùng biển này cũng phải phát, mà nó không phát. – Anh lật sang tờ sau. – Một giờ năm mươi, nó dừng cách mỏm Gành Én chừng ba trăm mét. Hai giờ mười, nó quay đầu đi lên phía bắc. Chạy nhanh.
– Còn cái xuồng?
– Xuồng nhỏ quá, radar không bắt rõ. – Nguyên nói. – Nhưng chỗ chiếc tàu kia dừng, là chỗ ghe cào thấy xuồng úp một tiếng sau.
Cầm nhìn chấm sáng hình bầu dục trên tờ giấy. Một chiếc tàu không có tên, đi xuống từ phía bắc, nơi có thành phố Bến Lưới, có bến Cầu Gỗ, có đảo Lá Sen.
Ông Liệu ngồi xuống cái ghế đẩu, lấy gói thuốc rê ra, nhưng không vấn.
– Thằng Đạm. – Ông nói nhỏ. – Thằng Đạm chạy tàu hậu cần cho Bến Chờ. Tàu nó mười lăm mét.
Ông im một lúc, rồi nói thêm, giọng khàn đi:
– Hồi nó hai mươi tuổi, nó làm rớt cái cờ lê của tàu xuống biển. Nó lặn xuống mò cả buổi chiều, môi tím tái mới chịu lên, vì sợ tao trừ lương. Tao có trừ đâu. Thằng đó không ác. Thằng đó chỉ sợ.
Không ai nói gì. Cái bóng đèn trên cành bàng đung đưa trong gió, ánh sáng chao qua chao lại trên tờ hải đồ, trên ba gương mặt.
Đêm qua, sau cuộc điện thoại, Cầm đã gọi lại cho Nguyên. Cô nói với anh: anh nói thật những gì anh nghe, đừng nói thêm những gì anh không biết. Anh đã gọi cho thanh tra Khúc lúc mười giờ đêm, kể lại đúng câu nói ấy, đúng giờ ấy, đúng tiếng ù đều đều ấy. Thanh tra Khúc cảm ơn anh, không hỏi gì thêm.
Bây giờ, dưới gốc bàng, cô nhìn Nguyên, nhìn ba, và cô hiểu ra rằng lần đầu tiên kể từ khi cô mở mắt, cả ba người lớn trong căn nhà này đang đứng về cùng một phía. Ba cô với nhúm sợi dây trong túi nilon. Nguyên với những cột số của anh. Và cô, với mười mảnh âm thanh và một hạt ghi âm trong túi áo ngực.
Không ai trong ba người nói ra cái điều mà cả ba đều đang nghĩ. Nếu bản số Một không chết trên biển, thì bản số Một đã ở đâu đó vào đêm hai mươi, ở nơi có tiếng ù đều đều. Và sáng hai mốt, có người đã kéo chiếc xuồng của cô ấy ra biển, để cả thành phố tin rằng cô ấy đã chết ở đó.
– Em định làm gì? – Nguyên hỏi.
Câu hỏi ấy, anh hỏi cô như hỏi một người vợ. Cầm nghe ra điều đó. Anh cũng nghe ra, vì anh quay mặt đi.
– Em chưa biết. – Cô nói. – Em không biết bắt đầu từ đâu. Con kia đi đón một người ở Cồn Rẽ, rồi không về. Em chỉ biết vậy. Em không biết Cồn Rẽ ở đâu. Em không biết người đó là ai. Em không biết hỏi ai.
Ông Liệu ngẩng lên.
– Cồn Rẽ thì tao biết. – Ông nói. – Cửa sông Rẽ, dưới Gành Én bốn chục phút xuồng. Hồi tao còn chạy tàu, cả tháng mới ghé một lần, giao nước ngọt. Mấy chục nóc nhà, đan lưới, cào ốc. Mà ở đó đông người lắm, mày hỏi ai bây giờ.
Có tiếng gỗ kêu cót két. Tiếng bậc thang thứ ba.
Ba người quay lại. Ở cửa sau, chỗ nối với chân cầu thang, Rong đứng đó, mặc bộ đồ ngủ màu vàng in hình những ngôi sao, chân trần, hai tay ôm cái máy nghe nhạc hình con cá vào ngực. Lần đầu tiên từ khi Cầm về nhà này, con bé đã dẫm lên bậc thứ ba.
Không ai biết con bé đứng đó từ bao giờ.
– Con biết Cồn Rẽ. – Rong nói. Giọng con bé run, nhưng rõ. – Mẹ kia dẫn con đi rồi. Con biết nhà bà Bảy.
Con bé bước ra khỏi khung cửa, đi chân trần trên nền sân lát gạch, tới đứng trước mặt ba người lớn. Nó ngẩng lên nhìn Cầm.
– Bà Bảy Én. – Con bé nói. – Nhà có cây phi lao. Có dây thuyền giấy treo dưới mái. Dì Câm ở với bà Bảy.
— Hết chương 16 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe