AI Truyện
Thuyền giấy hai mũi

🚀 Khoa học viễn tưởng

Ông Đạm ở chân đê

Thuyền giấy hai mũi · Chương 22/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 22: Ông Đạm ở chân đê

Trạm bơm số Ba kêu ù ù đều đều, trầm, liên tục, không lên không xuống, và Cầm đứng sững ở đầu cầu thang sắt, vì đó đúng là tiếng mà Nguyên đã tả.

Như tiếng tủ lạnh lớn. Như tiếng máy bơm trong phòng máy dưới chân đê.

Cái trạm là một khối bê tông vuông vức xây lọt vào thân đê, cửa sắt khoá, một ngọn đèn vàng gắn trên tường, quanh ngọn đèn muỗi bay thành một đám mờ. Bên trong, những cái máy bơm lớn đang hút nước từ con mương phía trong đồng đẩy ra biển, vì đêm nay triều xuống mà mưa mấy hôm trước còn đọng. Tiếng máy truyền qua bê tông, qua thanh lan can sắt lạnh dưới tay cô, chạy vào lòng bàn tay.

Ông Liệu đứng sau lưng cô, tay cầm cây đèn pin chưa bật.

Họ đi lúc mười một giờ rưỡi, bằng chiếc xe máy điện màu xanh lá, chạy dọc mặt đê, không bật đèn pha. Rong ngủ rồi. Ông Liệu khoá cửa ngoài, bỏ chìa vào túi áo, đứng nhìn lên cửa sổ phòng con bé một lúc lâu rồi mới lên xe. Gió đông bắc lạnh, mặt biển bên kia đê đen thẫm, chỉ có vệt sóng bạc đầu chạy dài dưới chân đê. Phía sau lưng họ, phía thành phố, nửa vầng trăng đang chìm dần, vàng đục, sắp chạm mấy nóc nhà cao tầng gần cảng.

Cầu thang sắt dẫn xuống một dải bãi đá hẹp nằm giữa chân đê và mép nước. Ở dưới đó, có một đốm lửa nhỏ, đỏ lên rồi tắt.

– Thằng Đạm. – Ông Liệu nói nhỏ.

Họ đi xuống. Bậc sắt rỉ, trơn vì hơi nước biển. Ông Liệu đi trước, một tay vịn lan can, một tay chìa ra sau cho cô nắm.

Ông Đạm ngồi trên một tảng đá, lưng tựa vào chân đê, ngay dưới bức tường bê tông của trạm bơm. Ông mặc cái áo khoác gió xanh đậm có in cọc neo trắng, mũ trùm kín đầu. Đốm lửa đỏ là điếu thuốc trên môi ông, lần này ông có đốt. Thấy hai người xuống tới chân cầu thang, ông đứng dậy, rút điếu thuốc ra khỏi miệng, rồi lại không biết làm gì với nó, cứ cầm lửng lơ.

Hai người đàn ông đứng nhìn nhau.

– Anh Liệu. – Ông Đạm nói.

Ông Liệu không trả lời. Ông đứng cách ông Đạm ba bước, hai tay buông thõng. Cầm đứng sau ba, và cô thấy vai ba cô nhô lên, hạ xuống, nhô lên, hạ xuống, như một người đang phải thở bằng sức.

– Tết năm sáu mươi bảy mày không ghé. – Ông Liệu nói. – Tết sáu tám, sáu chín cũng không. Tao tưởng mày chết.

– Em không dám ghé.

– Mày ngồi xuống đi. – Ông Liệu nói. – Nói đi. Con tao đứng đây nghe.

Ông Đạm ngồi xuống tảng đá. Ông Liệu ngồi xuống một tảng đá khác, đối diện. Cầm vẫn đứng. Cô đứng ở chỗ có thể nghe rõ cả hai người mà không phải nhìn mặt ai, sát chân bức tường trạm bơm, tiếng ù rung lên sau lưng cô.

Ông Đạm nói. Giọng ông khàn đặc, nhỏ, lẫn vào tiếng máy, tiếng sóng. Ông nói như người kéo lưới, từng mắt một, không vội, không bỏ mắt nào.

Năm sáu mươi sáu, cái tờ thông báo có thưởng là ông dán. Ông đi dán khắp các bến chợ dọc bờ, từ cửa sông Lưới xuống tới bến Rạch Rẽ. Điện thoại báo tin ghi vào máy trực của tổ hậu cần, mà tổ hậu cần hồi đó có ba người. Ngày hai tháng Tư có một thằng nhỏ gọi, giọng con nít mới bể, nói ở Cồn Rẽ có một bà bị thương dạt vô bãi, không nói được. Hôm đó ông nhận bốn mươi mấy cuộc. Có người thấy ma. Có người đòi tiền thưởng trước rồi mới nói. Có người gọi để chửi. Ông ghi cái cuộc của thằng nhỏ vào sổ, rồi ông ghi bên cạnh: đã kiểm, không phải khách.

– Em không đi. – Ông Đạm nói. – Em không có đi. Em ghi là đã kiểm. Em nghĩ mai em đi. Rồi mai có thêm năm chục cuộc nữa.

Ông rít một hơi thuốc. Đốm lửa đỏ rực.

– Ba năm sau con nhỏ ngồi trên cái băng ghế ngoài phòng bà Hằng. Em đi ngang, em nhìn mặt nó là em biết. Sẹo thì sẹo, mũi lệch thì lệch, mà em biết. Em biết con nhỏ từ hồi nó còn cột tóc hai bên, Tết nào em cũng lì xì nó một tờ hai chục. Bà Hằng không nói với em câu nào hết. Bà chỉ lấy cái sổ trực năm sáu mươi sáu ra, lật đúng trang đó, để lên bàn trước mặt em.

Ông Liệu ngồi im, hai bàn tay úp lên đầu gối.

Rồi ông Đạm kể đêm hai mươi.

Bản số Một ngồi trong phòng bà Hằng từ ba giờ chiều tới mười giờ tối. Không khóc. Hỏi đi hỏi lại về luật, về Toà, về cái bồn. Người chị ngồi ngoài hành lang, trên cái băng ghế gỗ, tay cầm cây kim đan lưới bằng tre, mắt nhìn ra biển. Ông Đạm ngồi canh người chị theo lệnh bà Hằng. Ông rót nước cho người chị uống. Người chị cầm ly nước, nhìn ông, rồi hát nho nhỏ, không có ai bảo.

– Mười giờ, – ông Đạm nói, – bà Hằng gọi em vô. Bà nói cô số Một tự nguyện ngủ, đúng Điều Mười Hai. Bà nói chuyện báo Toà thì để từ từ, bà lo. Bà nói em đi theo xuống hầm, phụ hai đứa kỹ thuật.

Bản số Một đi xuống hầm bằng chân mình. Tới trước cái bồn số Bảy, bản số Một dừng lại, quay sang nhìn ông Đạm.

"Chú Đạm. Chú nhớ con không?"

"Nhớ."

"Tết nào chú cũng lì xì con tờ hai chục. Con nhớ chuyện đó mà con chưa từng sống chuyện đó." Rồi bản số Một cười, cái cười khàn khàn. "Lạ quá chú ha."

Rồi bản số Một xin điện thoại. Kỹ thuật viên đưa cho cái máy của cơ sở. Bản số Một đứng giữa hai dãy bồn, quay lưng lại với mọi người, bấm số, nói một câu, cúp máy. Rồi tự leo vào bồn, tự nằm xuống, tự kéo cái áo choàng cho ngay.

– Em đứng ở chân cầu thang. – Ông Đạm nói. – Em không dám lại gần. Em đứng đó cho tới khi cái nắp đóng lại.

Không ai nói gì. Tiếng máy bơm ù ù đều đều sau lưng Cầm.

Cái tiếng ấy, cô nghĩ. Nguyên nghe tiếng này trong điện thoại. Người kia đứng giữa hai dãy bồn, nghe tiếng này, nói vào máy câu cuối cùng trước khi ngủ. Rồi người kia nằm xuống. Và cô, ba tháng sau, mở mắt ra ở phòng A-3, nghe đúng tiếng này vọng lên từ dưới sàn mà tưởng là tiếng máy lạnh.

– Còn chiếc xuồng. – Cô nói. Giọng cô bình tĩnh tới mức chính cô nghe thấy lạ.

Ông Đạm không nhìn cô. Ông nhìn ông Liệu.

– Bốn giờ sáng em ra bến đầu xóm Chài Cũ. Em biết cái xuồng, em thấy cô số Một chạy nó hoài ngoài cửa sông. Em nổ máy, chạy ra Lá Sen, giấu dưới gầm cầu tàu hậu cần. Trưa em lấy tàu Bến Chờ 2 kéo xuống Gành Én. Bà Hằng biểu tắt máy nhận dạng, em tắt. Tới Gành Én em mở dây, em leo xuống, em lật. Rồi em chạy về.

– Cái thùng đồ nghề. – Cầm nói.

– Bà Hằng biểu em lục coi trong xuồng có giấy tờ gì, máy ghi âm gì không. Em mở cái thùng ra coi. Toàn máy móc em không biết. Em lấy ra, em bỏ vô lại. Có cuộn dây đen, em quấn lại cho gọn. – Ông đưa bàn tay phải lên, cái bàn tay có vết sẹo chạy ngang mu, làm động tác quấn quanh khuỷu tay. – Em quấn kiểu này. Em quấn dây kiểu này cả đời.

Cầm nhắm mắt lại một giây. Sợi dây xoắn, cái nút thắt nhỏ gần đầu cắm.

– Mày quấn sai. – Ông Liệu nói. Giọng ông khàn đi. – Tao dạy mày quấn dây xuôi ngược, mày học không được. Hai năm trên tàu Hải Yến mày học không được.

– Dạ. – Ông Đạm nói. – Em học không được.

– Còn cái bình xăng?

Ông Đạm ngẩng lên, nhìn ông Liệu, không hiểu.

– Cái bình xăng đầy tới cổ. – Ông Liệu nói. – Xuồng chạy từ bến ra Lá Sen thì phải vơi mấy lít.

Ông Đạm ngồi im một lúc. Rồi ông bật ra một tiếng gì đó, nửa cười nửa nghẹn.

– Em đổ đầy lại. – Ông nói. – Trước khi kéo đi. Em đổ đầy lại. Em không nghĩ gì hết. Em thấy bình vơi thì em đổ. Mượn máy người ta thì trả lại phải đổ đầy, anh dạy em vậy mà. Hồi trên tàu Hải Yến, anh nói câu đó cả trăm lần.

Ông Liệu cúi gằm mặt xuống. Hai bàn tay ông trên đầu gối nắm lại, mở ra, nắm lại.

– Tao dạy mày cái đó. – Ông nói, rất nhỏ. – Cái đó thì mày học được.

Không ai nói gì một lúc lâu. Nửa vầng trăng đã chìm hẳn sau thành phố. Bãi đá tối hơn. Chỉ còn ngọn đèn vàng trên tường trạm bơm, và đốm lửa điếu thuốc của ông Đạm đã tàn tới sát ngón tay.

Ông Đạm kể nốt, nhanh hơn, như người muốn trút cho xong. Ngày hai mươi hai tháng Sáu ông xuống phòng thu Hạt Cát xin file, bà Hằng đưa giấy tờ, con dấu, ông không biết để làm gì. Tới khi nghe người ta nói bản số Một đã tự xoá kho, ông mới hiểu. Ngày ba mươi tháng Chín ông thấy người ta đẩy bản số Hai ra khỏi phòng đánh thức. Đêm đó ông về nhà, không ngủ được. Ông viết lá thư bằng chữ in hoa, viết đi viết lại mười mấy tờ, suốt gần hai tuần, rồi chỉ để lại một câu. Chiều thứ Bảy mười hai, ông mới dám đi bỏ thư ở bưu cục cảng, nơi ông không quen ai.

– Rồi cô xuống hầm. – Ông nói, lần đầu tiên nhìn thẳng vào Cầm. – Em đứng ở đầu hành lang khu B, em thấy cô đi vô cái cửa sắt. Em biết bà Hằng cũng thấy. Em sợ.

Cầm bước tới một bước, ra khỏi bóng tối dưới chân tường.

– Người ở Cồn Rẽ đâu, chú? – Cô hỏi. – Bà Hằng giữ chị ấy ở đâu?

Ông Đạm nhìn cô. Mắt ông đỏ, ướt.

– Cô đừng hỏi tôi cái đó. – Ông nói. – Tôi xin cô.

– Chú biết.

– Tôi biết. – Ông nói. – Tôi không nói. Chỗ đó là chỗ duy nhất người ta còn để yên cho chị ấy. Chị ấy ăn được, ngủ được. Không ai hỏi chị ấy là ai. Cô đem chuyện này ra Toà rồi, người ta sẽ lôi chị ấy ra khỏi chỗ đó, chụp hình, lấy vân tay, hỏi tới hỏi lui một người không nói được. Ít ra tôi để yên cho chị ấy được chỗ đó.

Cầm đứng đó, trong tiếng ù của trạm bơm. Chỗ để yên. Ăn được, ngủ được. Cô nghĩ tới những nắp kính mờ hơi nước dưới hầm khu B, những cái bóng người nằm ngửa bất động. Cô nghĩ, có lẽ với một người đàn ông như ông Đạm, cái bồn lạnh ấy thật sự là một chỗ để yên.

– Sao chú gọi con ra đây? – Cô hỏi. – Chú không nói chỗ chị ấy. Chú không có giấy tờ gì. Chú gọi con ra đây làm gì?

Ông Đạm vứt mẩu thuốc xuống nước. Nó tắt với một tiếng xèo rất nhỏ.

– Thứ Năm tôi lên Toà. – Ông nói. – Tôi tự đi. Tôi khai hết những gì tôi vừa nói. Tôi gọi cô ra đây vì tôi muốn nói với anh Liệu trước. Tôi không muốn anh Liệu nghe chuyện này từ miệng người của Toà.

Ông đứng dậy. Ông Liệu cũng đứng dậy. Hai người đàn ông lại đứng đối diện nhau trên bãi đá tối.

– Bà Hằng biết mày ra đây không? – Ông Liệu hỏi.

– Không biết.

– Bà đó giúp mày cái gì? Mày nợ bả cái gì?

Ông Đạm im lặng rất lâu.

– Vợ em chạy thận. Tám năm rồi. – Ông nói. – Bà Hằng cho em mượn, không lấy lời. Tám năm. Em nợ bả cái mạng vợ em.

Ông Liệu gật đầu. Ông đưa bàn tay ra. Ông Đạm nhìn bàn tay ấy, rồi chìa tay mình ra. Bàn tay phải có vết sẹo chạy ngang mu, cái vết sẹo mà ba mươi năm trước ông Liệu đã băng bằng một cái khăn lau máy.

Ông Liệu không bắt tay. Ông lật bàn tay ông Đạm lên, nhìn vết sẹo dưới ánh đèn vàng, rồi buông ra.

– Thứ Năm tao đi với mày. – Ông nói.

Họ về lúc gần hai giờ sáng. Rong vẫn ngủ, cái máy hình con cá nằm trên gối cạnh mặt con bé. Cầm không ngủ được. Cô nằm nghe tiếng sông và đếm. Thứ Năm. Ông Đạm khai. Toà xuống Lá Sen. Mở cái bồn số Bảy. Rồi tới cô.

Sáng thứ Tư, bảy giờ, cô gọi vào cái số máy lạ đêm qua. Máy tắt.

Tám giờ, cô gọi lại. Máy tắt.

Chín giờ, ông Liệu lấy xe đi. Ông đi tới xóm Cầu Sắt bên kia cảng, nơi ông nhớ nhà thằng Đạm ở từ hồi còn trên tàu Hải Yến. Ông về lúc gần trưa, dựng xe dưới gốc bàng, ngồi xuống ghế đẩu, không vấn thuốc.

– Vợ nó nói nó đi từ năm giờ sáng. – Ông nói. – Xách một cái giỏ đồ. Nói Bến Chờ cho nghỉ phép, đi đâu không nói. Điện thoại để ở nhà.

— Hết chương 22 —

Mục lục Thuyền giấy hai mũi

  1. 1Bậu cửa sổ phòng A-312 phút đọc
  2. 2Ba năm sáu tháng không có mình10 phút đọc
  3. 3Hai mươi ba giờ lẻ bốn phút10 phút đọc
  4. 4Con bé gọi bằng cô10 phút đọc
  5. 5Phòng thu trên dốc Me10 phút đọc
  6. 6Dây micro cuộn khuỷu tay10 phút đọc
  7. 7Vòng tay biết đếm nhịp tim10 phút đọc
  8. 8Hộp kẹo gừng dưới bậc thứ ba10 phút đọc
  9. 9Đừng tin chuyện mình chết10 phút đọc
  10. 10Điều Mười Hai10 phút đọc
  11. 11Dì Câm9 phút đọc
  12. 12Bồn số Bảy10 phút đọc
  13. 13Người đàn ông ở mạn tàu10 phút đọc
  14. 14Tiếng thở trong câu xác nhận10 phút đọc
  15. 15Thanh tra gõ bút vào đầu gối9 phút đọc
  16. 16Bình xăng đầy và nước chảy ngược9 phút đọc
  17. 17Cồn Rẽ10 phút đọc
  18. 18Vé tàu Sao Biển Ba10 phút đọc
  19. 19Cổ tay trái12 phút đọc
  20. 20Rong kể12 phút đọc
  21. 21Điều Mười Bảy12 phút đọc
  22. 22Ông Đạm ở chân đê12 phút đọc
  23. 23Mùa cá cơm ở Gành Hàu12 phút đọc
  24. 24Người kỹ thuật viên nói thật10 phút đọc
  25. 25Hạn chót11 phút đọc
  26. 26Lời khai rút lại12 phút đọc
  27. 27Bảy ngày trên đảo Lá Sen12 phút đọc
  28. 28Dì Câm11 phút đọc
  29. 29Mũi nào chạm bến11 phút đọc
  30. 30Ba ngày không có mẹ nào12 phút đọc
  31. 31Toà Thân Phận12 phút đọc
  32. 32Hai người cùng mở mắt11 phút đọc
  33. 33Ba người một tên11 phút đọc
  34. 34Giông cuối mùa12 phút đọc
  35. 35Tách danh10 phút đọc
  36. 36Tết ở xóm Chài Cũ10 phút đọc

Về truyện này

Thuyền giấy hai mũi là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →