AI Truyện

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Sợi vải quấn kiếm trên cầu Mười Bảy

Thanh kiếm không vỏ núi Cô Tùng · Chương 1/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 13 phút đọc🎧 10 phút · giọng Bảo Việt

Đọc

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Con dao lam của đứa con gái chỉ dài…
  2. 1:41Trác lấy lại cái tay nải. Hắn mở ra,…
  3. 2:38Trác móc trong túi ra năm viên đá nhỏ…
  4. 3:58Quán trọ đầu cầu Mười Bảy lấy ba mươi…
  5. 5:30Ông có đồ của Cô Tùng, – Trác nói.
  6. 6:25Giết.
  7. 7:20Bèo ngồi xổm ngoài lều bóc củ khoai nướng…
  8. 9:02Lúc ấy hắn đã nghĩ: người đó không nhìn…

Chương 1: Sợi vải quấn kiếm trên cầu Mười Bảy

Con dao lam của đứa con gái chỉ dài bằng đốt ngón tay, vậy mà nó lướt qua một cái, ba vòng dây vải quấn trên lưng Trác đứt cùng lúc.

Cái tay nải rơi khỏi vai hắn. Tấm vải xám bung ra, trượt dần xuống theo thân kiếm, và giữa cầu Mười Bảy, giữa buổi chiều mưa bụi đầu tháng Ba, thanh kiếm trần lộ ra trên lưng một người đi đường.

Lưỡi kiếm màu xám pha xanh, như nước giếng lúc trời âm u. Dọc sống kiếm có một hàng chữ khắc sâu, chữ nhỏ, nét gãy. Một bà bán ốc luộc đứng gần nhất nhìn thấy hàng chữ, lùi hai bước, đụng vào gánh hàng của mình.

– Kiếm nguyện! – bà kêu lên. – Kiếm nguyện đó bà con ơi, đừng đụng vô!

Đám đông dạt ra hai bên như nước rẽ quanh mũi đò. Ở Hạc Kiều ai cũng biết thanh kiếm không vỏ trên lưng người lạ nghĩa là gì: người đó đã thề một điều với thanh kiếm, và chưa làm xong.

Trác không nhìn đám đông. Hắn nhìn cái tay nải đang chạy.

Con bé ôm cái tay nải của hắn vào ngực, lách qua chân một ông gánh nước, nhảy xuống bậc đá dẫn tới bến. Nó gầy, tóc cắt ngắn ngang mang tai, áo cánh nâu rộng thùng thình, chân trần, chạy như chuột cống, không thẳng một đường nào.

Trác đuổi theo.

Hắn một tay giữ thanh kiếm sát lưng để lưỡi khỏi quệt vào ai, tay kia chống lên lan can cầu, phóng người qua.

Thành Hạc Kiều có chín mươi chín cây cầu, đánh số từ trung tâm ra ngoài, và con bé biết từng cây. Nó chui qua gầm cầu Mười Tám, trèo lên một chiếc thuyền chở than đang neo, nhảy sang bờ bên kia. Trác nhảy theo, gót giày đạp lên mạn thuyền, than đổ lách cách, người chèo thuyền chửi theo một câu dài.

Tới cầu Hai Mươi, con bé tính nhảy xuống một chiếc xuồng nan buộc dưới chân cầu. Nó đã đặt một chân lên mép xuồng thì Trác túm được cổ áo nó.

Hắn nhấc nó lên như nhấc một con mèo ướt.

– Buông ra! – con bé giãy. – Trong đó có cái gì mà ông đuổi dữ vậy? Có cái vỏ gỗ cháy dở với hai cái bánh khô, tui sờ rồi!

Trác lấy lại cái tay nải. Hắn mở ra, không kiểm bánh khô. Hắn lấy ra cái vỏ kiếm.

Vỏ làm bằng gỗ tùng, màu ngả vàng như mật ong để lâu. Một mặt khắc cành tùng chạy từ miệng vỏ xuống, mới được nửa chừng: phần trên lá kim đã ra từng chiếc, phần dưới chỉ là những đường phác nông như vết móng tay. Đầu dưới cháy đen một khúc, sờ vào còn để lại vệt than trên ngón tay.

Hắn lật nó lại, xem kỹ. Không sứt thêm chỗ nào. Hắn bỏ lại vào tay nải.

Con bé nhìn hắn, rồi nhìn thanh kiếm trần sau lưng hắn, rồi lại nhìn cái tay nải.

– Có vỏ mà không tra kiếm vô, – nó nói. – Ông khùng hả?

Trác không trả lời. Hắn thả cổ áo nó ra.

Con bé không chạy. Nó đứng xoa cổ, nheo mắt nhìn hắn như nhìn một con cá lạ ở chợ, tính xem bán được mấy đồng.

– Ông không đánh tui? Không giải tui lên Tuần Kiều Ty?

– Em biết chợ đêm cầu Mười Bảy không?

– Tui sinh ra ở đó.

– Có một người bán đồ của Cô Tùng Kiếm Viện. Chuông đồng, tua kiếm, mảnh áo. Em biết người đó không?

Con bé im một lúc.

– Năm viên linh thạch vụn, – nó nói.

Trác móc trong túi ra năm viên đá nhỏ bằng hạt bắp, màu trắng đục, đặt vào lòng bàn tay nó. Con bé có vẻ hối hận vì đã ra giá thấp.

– Lão Kỵ, gầm cầu Hai Mươi Mốt. Bán cái gì cũng giả. Mà dạo này lão rỉ tai chợ đen là lão có một món đồ Cô Tùng thật, đòi giá cao lắm. Tối lão mới mở lều. Tối tui dắt đi, thêm hai viên nữa.

– Em tên gì?

– Bèo. Còn ông?

– Trác.

– Ông kiếm không vỏ, – con bé nói, như không nghe thấy cái tên. – Tối giờ Tuất, chân cầu Mười Bảy, phía có cây xoan.

Rồi nó chạy mất, lần này là chạy thường, không cần lách.

Lưỡi kiếm cứa vào vải mỗi ngày một ít, cứ ba bốn hôm lại phải quấn lại, nên tấm vải đã mỏng tới mức một con dao lam cũng cắt được. Trác mua ba sải vải bố, mười lăm đồng một sải, ngồi trên bậc đá quấn lại kiếm, vòng này đè lên vòng kia, để hở mũi kiếm một chút. Vải không được bọc kín. Vải mà khép kín lưỡi như vỏ thì kiếm sẽ hiểu đó là vỏ.

Đôi tay làm việc ấy đã quen tới mức không cần nhìn, và mắt hắn dừng ở cái chuôi kiếm.

Đầu chuôi gắn một viên đá tròn cỡ hạt nhãn, xám đục như mắt người già, không vân, không sáng, chẳng có gì đáng giá. Dưới chuôi buộc sợi tua đỏ bạc màu, cuối tua là cái chuông đồng nhỏ bằng đầu ngón tay cái, nứt một đường từ miệng lên vai. Bảy năm nay nó không kêu.

Đêm ấy, khi đặt thanh kiếm vào tay hắn, sư phụ đã gõ ngón tay lên viên đá xám ấy hai cái.

"Đừng bao giờ bán viên đá này, kể cả lúc đói."

Rồi ông nói thêm một câu nữa, câu cuối cùng. Trác không nghĩ tới câu đó lúc này.

Quán trọ đầu cầu Mười Bảy lấy ba mươi đồng một đêm, ngủ chiếu. Bà chủ nhìn thanh kiếm trên lưng hắn một lúc lâu rồi mới đưa chìa khóa phòng cuối hành lang, cạnh cầu thang sau. Người có kiếm nguyện thường đang đi đòi nợ máu, mà nợ máu hay kéo theo người khác tới đòi lại.

Hắn ăn một bát bún cá rô đồng tám đồng, nước dùng chua bằng me, thìa là xanh, cá rô chiên giòn. Hắn húp sạch cả nước. Bảy năm nay hắn chưa bỏ thừa bát nào.

Giờ Tuất, Bèo đứng dưới gốc xoan ở chân cầu, tóc vẫn còn ướt. Hoa xoan rụng tím cả bậc đá.

– Đưa trước hai viên, – nó nói.

Trác đưa.

Chợ đêm cầu Mười Bảy lan từ mặt cầu xuống hai bờ kênh, đèn lồng giấy dầu treo dày như chùm khế. Linh thảo phơi khô, da yêu thú còn tanh, phù chú chu sa, sách công pháp chép tay chín phần mười là giả. Một bà già ngồi xổm rao khàn khàn: "Bánh đúc nóng đây, bánh đúc nóng mới ra lò…"

Bèo dẫn hắn theo lối đất sát mép nước, dưới gầm các cây cầu, nơi ánh đèn lồng chỉ còn là những đốm vàng nhòe trên mặt kênh. Gầm cầu Hai Mươi Mốt thấp, phải khom lưng. Trong góc trụ cầu có cái lều chiếu cũ, cửa treo tấm phên dán dăm lá bùa đỏ đã phai.

– Lão Kỵ ơi, có khách, – Bèo gọi.

Một tiếng ho, rồi tấm phên vén lên.

Lão Kỵ đã ngoài bảy mươi, gầy như que củi, mặt nhăn như vỏ óc chó, mặc áo dài đen bạc thành màu nâu, cổ áo thêu một hình gì đó đã sứt chỉ. Mắt lão nhỏ, đục, nhưng nhanh. Lão nhìn Bèo, rồi nhìn lên mặt Trác, rồi nhìn qua vai hắn, tới chỗ mũi kiếm ló ra khỏi lớp vải.

Lão nhìn chỗ mũi kiếm ấy lâu nhất.

– Vào đi, – lão nói. – Con nhóc ở ngoài.

Trong lều có ngọn đèn dầu lạc, cái bàn thấp, mấy hũ sành, mùi long não ẩm mốc. Trác ngồi đối diện lão, thanh kiếm vẫn chéo trên lưng.

– Ông có đồ của Cô Tùng, – Trác nói.

– Ai bảo?

– Chợ đen.

Lão Kỵ cười, một tiếng cười khẩy, hở ra hàm răng thiếu ba cái.

– Chú mày là gì của Cô Tùng?

Trác không trả lời. Hắn thò tay vào trong áo, lấy ra một vật bọc trong miếng vải dầu, mở ra, đặt lên bàn.

Đó là nửa cái thẻ ngọc trắng ngà, gãy chéo. Trên đó khắc nổi một con hạc đứng một chân, chân kia co dưới bụng, cổ rụt vào. Đường khắc sắc như mới. Chỗ gãy thì đã mòn nhẵn vì bảy năm nằm trong tay một đứa trẻ.

– Đêm Cô Tùng cháy, – Trác nói, – cái này rơi từ thắt lưng một người trong bọn chúng. Người ta nói Huyết Ảnh Môn làm việc đó. Ông là người Huyết Ảnh. Cổ áo ông có thêu chim.

Lão Kỵ không nhìn xuống cổ áo mình. Lão nhìn cái thẻ ngọc. Ngọn đèn dầu lạc lắt lay, và Trác thấy cái yết hầu khô của lão chạy lên chạy xuống một lần.

Rồi lão lấy hai ngón tay đẩy cái thẻ về phía Trác.

– Cất đi, – lão nói. – Đừng chìa cái này ra cho ai ở thành này coi nữa.

– Của ai?

– Chú mày đi tìm Huyết Ảnh để làm gì?

– Giết.

Lão Kỵ cười, lần này cười thành tiếng, cười tới mức ho, phải chống một tay xuống bàn.

– Huyết Ảnh chết hết rồi, – lão nói khi đã thở được. – Chết từ năm Mậu Tuất, tháng Ba, hai trăm mười một người, có cả đứa nhỏ còn bú. Chú mày tới trễ sáu năm. Chú mày biết vì sao bọn ta chết không? Bọn ta chết vì Cô Tùng.

– Vì các người đốt Cô Tùng.

– Vì người ta cần một đứa đã đốt Cô Tùng.

Trác nhìn lão. Lão Kỵ nhìn lại, không chớp.

– Ông nói dối, – Trác nói.

– Ừ. Tao nói dối cả đời, chú mày cứ hỏi con nhóc ngoài kia. – Lão nhổ một bãi nước bọt vào cái hũ sành bên cạnh. – Thôi, về đi. Mai giờ Mão quay lại. Tao có một món định bán, giờ tao nghĩ lại rồi, không bán nữa. Tao cho chú mày coi. Coi rồi tự mà nghĩ.

– Sao không phải bây giờ?

– Vì tao không để nó ở đây, đồ ngu. Ai lại để của quý trong lều?

Trác đứng dậy, đầu chạm mái lều.

Lúc hắn vén tấm phên, lão Kỵ nói thêm, giọng nhỏ hẳn đi.

– Cái thẻ đó. Đừng chìa cho ai. Nhớ chưa.

Bèo ngồi xổm ngoài lều bóc củ khoai nướng không biết mua lúc nào. Nó không hỏi gì, dắt hắn về gốc xoan rồi biến vào đám đông.

Đêm ấy Trác không ngủ được.

Hắn nằm trên chiếu, thanh kiếm đặt dọc bên người, lưỡi quay ra ngoài. Ngoài cửa sổ, trăng thượng huyền treo nghiêng trên mái ngói, sắp lặn. Tiếng nước vỗ chân cầu.

Hắn chạm tay lên chỗ sau tai trái. Ở đó có một mảng da sần, to bằng đồng xu, gồ lên thành từng gợn nhỏ xếp lớp lên nhau, như vảy cá khô. Hắn không nhớ mình bị bỏng lúc nào. Bà Dụ, vợ ông tiều phu đã kéo hắn từ dưới giếng lên, nói chắc là tàn lửa rơi qua khe nắp giếng. Đêm ấy lửa cháy suốt cả đêm, cháy tới sáng.

Đêm ấy là đêm mười bốn tháng Chạp năm Đinh Dậu. Tuyết rơi trên núi Cô Tùng từ chiều. Trăng gần tròn, sáng tới mức tuyết trên võ trường xanh lên như bột gạo.

Hắn mười hai tuổi. Còn một tháng nữa là sinh nhật mười ba. Sư phụ đã hứa sẽ tặng hắn một cái vỏ kiếm.

Hắn nhớ tiếng của mấy chục cái chuông đồng nhỏ trên tua kiếm đệ tử Cô Tùng cùng rung lên giữa đêm, vì người đeo chúng cùng rút kiếm một lúc. Rồi từng cái một tắt đi.

Hắn nhớ sư phụ chạy vào phòng ngủ đệ tử nhỏ, áo dính tuyết và một thứ sẫm màu hơn tuyết, kéo hắn ra cái giếng rửa kiếm sau võ trường, đặt vào tay hắn thanh kiếm của chính ông, gõ ngón tay lên viên đá xám ở chuôi.

"Đừng bao giờ bán viên đá này, kể cả lúc đói."

Rồi ông cúi xuống, áp trán vào trán hắn. Trán ông nóng.

"Sống. Đừng về."

Ông thả hắn xuống giếng bằng sợi dây gầu. Nước lạnh tới ngực. Nắp giếng bằng gỗ lim đậy lại. Tối hẳn.

Hắn không nhớ hắn ở dưới đó bao lâu. Hắn chỉ nhớ một lúc nào đó, nắp giếng hé ra. Ánh đuốc đỏ lọt xuống. Một bàn tay đặt lên mép nắp, bàn tay đàn ông, to, ngón trỏ đeo một cái nhẫn đồng có ba vòng xoắn vào nhau. Hắn nhìn thấy cái nhẫn rõ tới mức bảy năm sau vẫn vẽ lại được từng vòng. Hắn không thấy mặt. Có cái gì đó rơi xuống nước, đánh tõm cạnh vai hắn. Rồi nắp giếng đậy lại.

Lúc ấy hắn đã nghĩ: người đó không nhìn thấy mình. Dưới giếng tối quá.

Khi ông Dụ kéo hắn lên lúc trời sáng, tay hắn nắm chặt nửa cái thẻ ngọc hình con hạc mò được dưới đáy giếng, nắm chặt tới mức ông Dụ phải bẻ từng ngón tay mới gỡ ra được.

Trác không nghĩ tới câu cuối của sư phụ. Hắn nghĩ tới hàng chữ dưới sống kiếm, hàng chữ chính hắn dồn khí khắc vào năm mười bảy tuổi, cái đêm hắn lên Trúc Cơ.

"Nợ Cô Tùng chưa trả, kiếm không về vỏ."

Gần sáng hắn mới chợp mắt được một lúc.

Giờ Mão, trời vừa hửng, sương còn trắng trên mặt kênh. Trác đi tới cầu Hai Mươi Mốt.

Trên cầu đã có một hàng người nhoài qua lan can nhìn xuống, không ai nói to. Tấm phên lều lão Kỵ bị giật rách một nửa. Dưới chân trụ cầu, chỗ mấy cái cọc tre chắn rác, có một cái gì đó đen, nằm sấp, mắc vào cọc.

Một người lính Tuần Kiều Ty đang lội xuống, nước tới thắt lưng, dùng cây sào móc nó vào bờ. Khi người ta lật nó lên, Trác thấy một vết chém dài trên ngực áo đen bạc màu, đúng chỗ thêu hình con chim đã sứt chỉ.

Trên cầu, bà bán ốc luộc hôm qua đứng giữa đám đông. Bà nhìn thấy hắn. Bà giơ tay chỉ.

– Thằng đó, – bà nói, không to, nhưng cả hàng người trên cầu đều quay lại. – Thằng kiếm không vỏ. Tối qua nó vô lều lão Kỵ, tui thấy.

Sáu người lính Tuần Kiều Ty đi lên từ bậc đá. Người đi đầu là một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, tóc muối tiêu, mặt mệt mỏi như người ba đêm chưa ngủ. Ông ta cầm trong tay một bộ khóa tay bằng sắt đen, khắc những đường phù mảnh, thứ người phàm dùng để khóa khí tu sĩ.

– Cậu, – ông ta nói với Trác, giọng không giận, chỉ mệt. – Đưa tay ra.

Trác nhìn xuống cái xác dưới bờ kênh, rồi nhìn bộ khóa. Hắn đưa hai tay ra.

— Hết chương 1 —

Mục lục Thanh kiếm không vỏ núi Cô Tùng

  1. 1Sợi vải quấn kiếm trên cầu Mười Bảy10 phút
  2. 2Ông Bảy mổ trâu đọc vết chém12 phút đọc
  3. 3Cái chuông không có tiếng11 phút đọc
  4. 4Con dao cùn ở bến Cá Chạch10 phút đọc
  5. 5Chân truyền Thái Nhạc uống trà quán bà Nghê11 phút đọc
  6. 6Ba trận ở kiếm đài cầu Ba Mươi11 phút đọc
  7. 7Chuyện người anh của ông Bảy10 phút đọc
  8. 8Mười hơi thở của sư tỷ11 phút đọc
  9. 9Con hạc đứng một chân11 phút đọc
  10. 10Bà già hút thuốc ở Thành Đỏ10 phút đọc
  11. 11Nắm cát10 phút đọc
  12. 12Chim báo bão10 phút đọc
  13. 13Hòm hàng có mùi muối10 phút đọc
  14. 14Mười bốn người dưới lòng cát10 phút đọc
  15. 15Luật giếng10 phút đọc
  16. 16Mười bước cát10 phút đọc
  17. 17Đêm bão thứ hai11 phút đọc
  18. 18Thuyền ông Tư Hàu12 phút đọc
  19. 19Con của nàng Sương13 phút đọc
  20. 20Kiếm dưới nước11 phút đọc
  21. 21Chợ Rạn Đen11 phút đọc
  22. 22Thuyền săn cờ hạc11 phút đọc
  23. 23Mẫn Khiêm dưới đáy biển10 phút đọc
  24. 24Mở lệ châu10 phút đọc
  25. 25Lòng xoáy10 phút đọc
  26. 26Thủy triều quay về10 phút đọc
  27. 27Lên bờ10 phút đọc
  28. 28Kiếm Lâm10 phút đọc
  29. 29Người đặt tay lên nắp giếng10 phút đọc
  30. 30Khe sai10 phút đọc
  31. 31Đêm trước Kiếm Hội11 phút đọc
  32. 32Hàn Trì11 phút đọc
  33. 33Mười hơi thở trước Vạn Kiếm Đài12 phút đọc
  34. 34Nguyên Anh không có cơm11 phút đọc
  35. 35Nợ11 phút đọc
  36. 36Vỏ kiếm gỗ tùng10 phút đọc

Về truyện này

Thanh kiếm không vỏ núi Cô Tùng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →