Chương 21: Chợ Rạn Đen
Bèo cưỡi trên lưng ông Tư Hàu xuống đáy biển, hai tay bám vào mép mai rùa, miệng ngậm túi sứa, mắt nhắm tịt.
Đó là cách duy nhất để con bé theo được. Rạn Đen nằm xa về phía nam, hơn hai canh giờ bơi, và phải đi dưới nước suốt quãng ấy vì thuyền săn hay lượn trên mặt biển phía Hòn Khói. Ông Tư Hàu bảo ông bơi như rùa, chậm mà không mệt, cõng một đứa con gái mười lăm tuổi còn nhẹ hơn cõng một bao muối. Bèo bảo ông tính tiền. Ông bảo lần này không tính.
Trác bơi bên cạnh. Bà Triều đi trước, chậm, có dì Ngần và bốn giao nhân trẻ bơi kèm hai bên. Mặt trời trên đầu họ chỉ còn là một đốm sáng nhòe, lắc lư, rồi mờ dần khi nước sâu thêm.
Rạn Đen hiện ra như một ngọn núi chìm.
Đá ở đây đen, không phải đen của bóng tối, mà đen của đá cháy, xốp, lỗ chỗ như bã than, mọc lên từ đáy biển thành những cột, những vách, những mái vòm. Không có san hô trắng. Chỉ có rong nâu dài như tóc người chết đuối lắc lư theo dòng, và những con cá lớn, xám, lừ đừ, bơi ra từ các hốc đá nhìn đoàn người lạ rồi lại lừ đừ bơi vào.
Bà Triều dẫn họ vào một cái hang dưới chân ngọn núi chìm. Cửa hang rộng bằng cổng thành, tối om. Họ bơi vào chừng trăm sải thì nước nông dần, rồi trên đầu Trác bỗng có mặt nước.
Hắn ngoi lên. Không khí.
Đó là một cái hang lớn nằm trong lòng núi đá, nửa dưới ngập nước biển, nửa trên là một vòm đá cao như mái đình, giữ được một túi khí khổng lồ từ không biết bao nhiêu nghìn năm. Trên vách hang, những đám rêu đá phát sáng xanh mờ, như có ai đó rắc bột lân tinh. Dọc mép nước, những bậc đá đen tự nhiên chạy vòng quanh hang như những bậc ngồi quanh một sân đình.
Và trên những bậc đá ấy là chợ.
Trác chưa từng thấy cái gì như thế. Những con yêu biển đã tu tới mức hóa được nửa người ngồi bày hàng trên bậc đá, nửa người trên khô, nửa người dưới còn ngâm trong nước. Một bà lão lưng mai rùa giống hệt ông Tư Hàu bày một sạp ngọc trai đủ màu, xếp theo cỡ trên tấm lá rong phơi khô. Hai anh em rắn biển, da sọc đen trắng, bán những cái lọ sành đựng nọc độc đã pha loãng làm thuốc. Một ông già cua, hai tay vẫn còn là hai cái càng, đang dùng càng đập vỡ vỏ những con ốc gai cho khách xem ruột. Mùi muối, mùi rong, mùi cá khô, mùi nhựa thông từ mấy ngọn đuốc ai đó cắm trên vách đá.
Bèo trườn khỏi lưng ông Tư Hàu, nhả cái túi sứa ra, ho một tiếng, rồi đứng thẳng dậy trên bậc đá. Con bé nhìn quanh cái chợ một vòng. Mắt nó sáng lên như mắt mèo thấy chuột.
– Đừng, – Trác nói.
– Tui chưa làm gì.
– Đây không phải Hạc Kiều.
– Ở đâu có chợ thì ở đó là Hạc Kiều. – Nhưng con bé vẫn đi sát vào hắn, nắm vạt áo hắn.
Giữa hang có một tảng đá đen lớn, phẳng mặt, nhô lên khỏi nước như cái bục. Trên đó là Kình Sấm.
Trác đã nghĩ một con kình thì phải to. Nó to thật. Ở dạng nửa người, Kình Sấm cao gần gấp rưỡi Trác, vai rộng như cánh cửa, da xám bóng như da cá voi ướt, không một sợi lông. Đầu nó trọc, trên đỉnh đầu có một cái lỗ thở khép kín như một cái sẹo cũ. Ngang ngực nó có một vết sẹo khác, dài, lõm sâu, hình dạng như đường đi của một cây lao sắt. Nó ngồi xổm trên tảng đá, hai tay gác lên đầu gối, nhìn đoàn người từ Rạn San Hô Trắng bước lên bậc đá.
Nó nhìn Trác lâu nhất.
– Đây hả? – nó nói. Giọng nó trầm tới mức Trác cảm thấy cái túi khí trong hang rung lên. – Con lai.
Bà Triều trượt lên bậc đá thấp nhất, nằm nửa người ra đó. Bà không trả lời.
Trên những bậc đá xung quanh đã có nhiều người khác ngồi. Một bà lão rùa biển, mai chi chít hà bám, già hơn cả bà Triều. Một ông rắn biển râu dài, mắt vàng. Mấy con kình trẻ hơn Kình Sấm, nửa người, ngồi thành một hàng sau lưng nó. Mấy giao nhân từ những rạn khác. Trác đếm được chừng ba chục người. Những người đứng đầu các rạn quanh biển Uyên Hải.
Kình Sấm đứng dậy. Bóng nó đổ dài trên vách hang.
– Tháng trước thuyền săn bắt ba đứa giao nhân ở Rạn Rêu, – nó nói. – Mười ngày trước, bắt một con rùa con của bà Đồi. – Nó hất cằm về phía bà lão rùa biển. Bà lão không nhúc nhích. – Năm nay chúng nó ra biển nhiều hơn năm ngoái. Năm ngoái nhiều hơn năm kia. – Nó cúi xuống, nhặt từ chân tảng đá lên một khúc sắt dài, cong, gãy, đầu nhọn có ngạnh. Một cây lao. Trên thân lao, Trác thấy những đường bùa khắc, và một dấu nhỏ: ngọn núi có tuyết. – Chúng nó gọi đó là trừ yêu loạn. Chúng nó gọi chúng ta là loạn.
Nó ném cây lao xuống nước. Nước bắn lên tới bậc đá thứ ba.
– Hai mươi hai năm trước, – Kình Sấm nói, – em gái tao bị lưới ở ngoài Hòn Khói. Nó mới bốn mươi tuổi. Nó không về. – Nó nhìn bà Triều. – Con Sương của bà cũng bị lưới cùng năm đó. Con Sương về. Em tao không về.
Bà Triều nhìn lên nó. Bà vẫn im.
Trác nhớ lời bà kể. Trong hồ có bốn chục đứa như nó. Giao nhân, rùa, rắn biển, cả một con kình con.
– Con Sương về nói cho bà biết chúng nó đem em tao đi đâu, – Kình Sấm nói. – Hồ lạnh trên núi tuyết. Mười năm mổ một lần. Bà biết. Cả biển biết. Hai mươi mốt năm nay cả biển biết, và cả biển ngồi yên, vì bà bảo ngồi yên. – Giọng nó vỡ ra thành một tiếng gầm. – Bà bảo đánh lên bờ thì chúng nó có cớ. Bà bảo chờ. Chờ cái gì? Chờ chúng nó mổ hết?
– Chờ người đất liền tin, – bà Triều nói. Giọng bà chậm, nhỏ, nhưng cả hang nghe rõ.
– Người đất liền không bao giờ tin! – Kình Sấm quay phắt về phía Trác, chỉ thẳng một ngón tay to như cái chày vào ngực hắn. – Trừ khi có cái này.
Cả hang quay về phía Trác.
– Nó có máu của biển, – Kình Sấm nói. – Nó có mặt của người. Nó cầm kiếm của người núi tuyết, cái người đã cướp con Sương đi. Nó cầm lệ châu của con Sương. – Con kình nhảy từ tảng đá xuống, nước tung lên, rồi bước lên bậc đá, đứng sừng sững trước mặt Trác. Nó cúi xuống, nhìn thẳng vào mặt hắn. Hơi thở của nó mặn và tanh. – Mày đứng đầu. Tao kéo cả biển lên Vịnh Muối. Đốt thuyền săn, phá cái kho đá của chúng nó, rồi đi lên núi tuyết. Người đất liền thấy mày đứng đầu, họ sẽ phân vân. Một đứa mặt người cầm kiếm người đứng về phía biển. Họ sẽ phân vân trước khi phóng lao.
Bèo nắm vạt áo Trác chặt hơn.
Trác nhìn Kình Sấm. Hắn nhìn vết sẹo dài trên ngực nó. Hắn nghĩ tới cái lồng sắt ở bến Vịnh Muối, cái đuôi xanh lam rách tả tơi thò ra qua song sắt, tiếng rên như người đàn bà rên trong giấc ngủ. Kiếm nguyện trong người hắn cựa dậy. Nó thích những gì con kình vừa nói. Đốt. Phá. Đi lên núi tuyết.
Hắn nới lỏng bàn tay trên chuôi kiếm.
– Không, – hắn nói.
Cả hang im lặng.
– Mày nói gì?
– Tôi không làm cờ cho ai.
Kình Sấm nhìn hắn một lúc. Rồi nó cười, một tiếng cười trầm như sấm rền ở xa.
– Mày sợ.
– Ở Vịnh Muối có một bà già bán nước dừa, – Trác nói. – Bà ấy nói hồi chưa có thuyền săn thì yêu không lên bờ. Bà ấy không có lao. Mấy người làm muối cũng không có lao. Anh kéo biển lên Vịnh Muối thì anh đốt ruộng muối của họ trước, rồi mới tới thuyền săn. – Hắn ngừng một chút. – Rồi người núi tuyết sẽ dán cáo thị khắp đất liền. Yêu loạn. Thật. Có chứng. Và lần sau họ ra biển với gấp đôi thuyền, mà không ai dưới đó phân vân nữa.
– Mày nói như người.
– Tôi là người. Nửa.
Kình Sấm không cười nữa.
Nó vung tay.
Trác đã thấy nó vung trước khi nó vung. Không phải nhờ mắt. Nhờ nước. Dưới chân hắn, nước ngập tới mắt cá, và khi con kình dồn sức vào vai, nước dưới chân nó dạt ra trước một nhịp. Như dòng nước ở mặt ngoài rạn báo trước cho hắn biết dì Ngần sắp đâm.
Hắn không rút kiếm. Hắn không đỡ. Hắn nghiêng người theo hướng nắm đấm tới, như cọng rong nghiêng theo dòng. Nắm đấm to như cái cối giã gạo đi sượt qua má hắn, qua vai hắn, mang theo cả sức nặng của một con kình chín mươi năm tuổi. Rồi hắn đặt một bàn tay lên khuỷu tay nó, nhẹ, như đặt lên cổ tay một người đang lên cơn, và để cho cái sức nặng ấy đi tiếp.
Kình Sấm lao qua hắn, lảo đảo hai bước, đâm sầm vào vách hang. Đá vụn rơi xuống nước lách tách. Mấy đám rêu phát sáng rụng ra, trôi trên mặt nước như những cái đèn lồng nhỏ.
Con kình đứng dậy, quay lại. Nó nhìn Trác. Trên mặt nó không có giận. Có một cái gì đó khác, gần với ngạc nhiên.
– Ai dạy mày cái đó?
– Một bà già ở sa mạc. Với dì Ngần.
Ở bậc đá thấp nhất, bà Triều cất tiếng.
– Biển không đánh khi chưa biết đánh ai, – bà nói. Rồi bà nhìn quanh hang, nhìn từng người đứng đầu các rạn. – Nó nói đúng một điều. Đánh lên bờ thì người núi tuyết có cớ. Hai mươi mốt năm ta nói câu đó, mấy người cho là ta già, ta sợ. Hôm nay đứa có máu người nói câu đó. Mấy người nghe chưa?
Ông rắn biển râu dài gật đầu, chậm. Bà lão rùa biển cũng gật. Mấy con kình trẻ sau lưng Kình Sấm nhìn nhau, không gật, không lắc.
Kình Sấm đứng giữa hang rất lâu. Nước nhỏ từ vai nó xuống.
– Mười ngày, – cuối cùng nó nói. Nó không nhìn bà Triều. Nó nhìn Trác. – Tao chờ mười ngày. Mày có cách nào khác thì mày nói. Không có thì tao đi. Có mày hay không có mày.
Nó nhảy xuống nước, lặn mất. Mấy con kình trẻ lặn theo.
Chợ họp tiếp. Người ta lại bày hàng, lại mặc cả, như chưa có gì xảy ra. Ở biển, người ta quen với những cơn giận của Kình Sấm như người ở Hạc Kiều quen với mưa bụi tháng Ba.
Bèo đã buông vạt áo Trác từ lúc nào. Khi hắn tìm thấy con bé, nó đang ngồi xổm trước sạp ngọc trai của bà lão rùa. Nó đổi ba hạt ngọc trai lấy một cái vỏ ốc xà cừ to bằng nắm tay, cãi nhau bằng tay chân vì bà lão không nói tiếng người. Bà lão rùa có vẻ thích con bé. Lúc trả vỏ ốc, bà còn nói thêm một tràng gì đó với ông Tư Hàu, chỉ tay về phía bắc.
Trên đường về, ông Tư Hàu bơi chậm lại bên cạnh Trác.
– Bà bán ngọc nói, – ông nói, giọng đi qua nước rung rung, – mấy hôm nay ngoài Hòn Khói có ba chiếc thuyền săn đậu. Không phải một. Ba. Đậu im, không thả lưới. Như đang chờ.
Họ về tới Rạn San Hô Trắng lúc mặt trời đã ngả về tây.
Họ chưa kịp ngoi lên mặt đầm thì đã nghe tiếng vỏ ốc gõ. Không phải nhịp gọi. Gõ dồn, gõ dập, liên hồi, không theo nhịp nào. Một giao nhân trẻ bơi như tên bắn từ phía bắc rạn tới, lao thẳng vào bà Triều, nói một tràng không ra hơi.
Bà Triều nghe. Rồi bà quay sang Trác.
– Thuyền săn, – bà nói. – Ba chiếc. Cách vành rạn phía bắc chưa tới một dặm. Lưới đã thả xuống nước.
Trác ngoi lên mặt đầm. Trên biển phía bắc, mờ trong nắng chiều, có ba cánh buồm trắng thêu núi tuyết.
— Hết chương 21 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe