Chương 15: Luật giếng
Viên yêu đan nằm trên chiếu, giữa ba người, trong cái lều của bà Khói. Nó đã thôi sáng. Bây giờ nó chỉ còn là một quả cầu mờ đục màu xanh nhạt như nước rửa rau. Nhưng hơi lạnh vẫn tỏa ra từ nó, và quanh nó, trên mặt chiếu cói, sương giá đã đọng thành một vòng trắng.
– Yêu biển tu lâu thì cũng như người tu lâu, – bà Khói nói. – Tới một mức thì kết đan. Người kết đan trong bụng, yêu cũng vậy. Lấy đan ra khỏi bụng người thì người chết. Yêu cũng vậy.
Trác nhìn viên đan. Hắn nghĩ tới hàng chục cái thùng trên kệ gỗ dưới lòng núi. Ba bốn viên một thùng.
– Bà thấy cái này bao giờ chưa?
– Một lần. Hồi tôi mười bảy, đi theo cha dẫn đoàn ra tận bờ đông. Ở chợ Vịnh Muối có người bán một viên, giấu trong bao muối như vầy. Người ta chém nhau ngay giữa chợ để giành nó. – Bà rít thuốc. – Một viên.
– Ai cần cả một kho?
Bà Khói không trả lời ngay.
– Trận lớn, – cuối cùng bà nói. – Trận hộ sơn của một tông lớn ăn linh khí như voi ăn mía. Linh thạch thì nuôi được, nhưng phải nuôi cả núi. Yêu đan thì một viên bằng mấy trăm viên linh thạch. – Bà gõ tẩu. – Hoặc người muốn lên một cảnh giới mà không chờ được.
Kế ngồi ở góc lều, từ nãy chưa nói câu nào. Bây giờ hắn nói.
– Cái kho đó tôi đẽo.
Trác và bà Khói cùng quay lại.
– Ba năm trước, – Kế nói, giọng khàn, mỗi câu ngắn như một nhát cuốc. – Hầu thuê ba đứa. Đẽo sau vách tầng ba. Trả gấp đôi. Cấm hỏi. Đẽo xong, hai đứa kia được xóa nợ, về Thành Đỏ. – Hắn nhìn xuống bàn tay phải của mình. – Tôi một tay, đẽo chậm, chưa được xóa.
– Vách tầng ba mỏng vì cái kho.
– Ừ.
Không ai nói gì thêm.
Sáng mười chín, ông Hầu Tất Đạt tới bãi thuyền của bà Khói, dẫn theo sáu gã gác cầm roi và gã đàn ông áo nâu áp tải hàng Thái Nhạc.
Ông Hầu không còn mặc áo lụa cánh trả. Ông mặc áo vải xám, như để cho người ta thấy ông cũng vừa trải qua một ngày khổ sở. Nhưng giọng ông vẫn ngọt.
– Cậu kiếm sư, – ông nói, đứng giữa bãi, đủ to để những người đang sửa thuyền xung quanh đều nghe. – Hôm qua cậu xuống hầm cứu người, tôi cảm ơn cậu. Nhưng cậu đã phá vách vào kho hàng niêm phong của mỏ, kho hàng của Thái Nhạc Kiếm Tông gửi. Một thùng bị vỡ, hàng bị mất. – Ông nghiêng đầu về phía gã áo nâu. – Vị này là người của Thái Nhạc. Cậu giao lại hàng, rồi theo vị này về núi để Thái Nhạc xét.
Gã áo nâu đứng im, nhìn Trác. Đó là cái nhìn hắn đã nhìn Trác đêm hắn đặt tay lên nắp thùng.
– Tôi không phá vách, – Trác nói. – Vách tự sụp.
– Ai làm chứng? – ông Hầu hỏi, nhẹ nhàng. – Mười bốn đứa thợ mỏ nợ tôi tiền?
Bà Khói đang ngồi trên mũi thuyền, khâu buồm. Bà cắn đứt sợi chỉ, đặt cái kim xuống, đứng dậy. Bà chống gậy đi tới, đứng giữa Trác và ông Hầu, nhỏ thó, lưng còng, đầu chỉ tới vai ông Hầu.
– Hầu, – bà nói. – Ông ở Trạm này hai mươi năm, ông biết luật giếng.
Ông Hầu im.
– Ai kéo được từ mười người sống trở lên ra khỏi lò sập, – bà Khói nói, đủ to cho cả bãi nghe, giọng đều như đọc kinh, – thì được xin mỏ đó một điều. Hội giếng xét. Từ lúc xin tới lúc xét, không ai trong Trạm được đụng vào người đó. Giếng kéo người lên thì giếng che người kéo.
Những người sửa thuyền xung quanh đã ngừng tay. Có người gật đầu. Ông già Tư Rạ chột mắt, đang đứng trên cột buồm, nói vọng xuống, câu dài thứ hai trong đời:
– Luật có từ trước khi có mỏ!
Trác nhìn bà Khói. Bà không nhìn hắn.
– Nó xin, – bà nói, chỉ cái tẩu vào Trác. – Nó xin mỏ số Bảy xóa nợ cho Đặng Văn Khoai.
Ông Hầu Tất Đạt nhìn bà Khói rất lâu. Rồi ông cười. Nụ cười cũ, ngọt như mía.
– Được, – ông nói. – Hội giếng xét. Nhưng luật giếng nói rõ: người kéo người lên phải là người không gây ra lò sập. Ngày hai mươi hai, ở giếng thứ nhất. – Ông quay đi, rồi dừng lại, nói qua vai. – Hàng của Thái Nhạc thì không nằm trong luật giếng. Bà giữ cho kỹ.
Viên yêu đan không còn ở trong lều bà Khói. Từ tối hôm trước, Bèo đã cầm nó đi đâu đó, và khi Trác hỏi, con bé chỉ nhún vai: "Tui móc túi bảy năm, anh hỏi tui giấu đồ ở đâu à?"
Ba ngày sau đó Trạm Bảy Giếng xôn xao.
Ông Hầu đi từng nhà. Ông nói với người ta rằng đêm nào thằng kiếm không vỏ cũng ngồi trên chòi canh làm cái gì đó với thanh kiếm, gõ gõ, cắt cắt, gã gác nào cũng thấy. Ông nói kiếm nguyện làm rung đá, ai cũng biết kiếm nguyện có khí độc. Ông nói tầng ba sụp đúng sáng hôm sau đêm thứ mười bốn thằng đó ngồi trên chòi. Người ta nghe. Người ta không biết tin ai.
Rồi Bèo nghe được, từ một thằng nhỏ bán nước ở giếng thứ ba, rằng ông Hầu đã tới gặp Kế.
– Ổng hứa xóa nợ cho Kế, – con bé nói, mặt tái đi. – Xóa sạch. Miễn là Kế ra trước hội giếng, nói anh chém đá làm sập hầm.
Trác không nói gì.
Hắn nghĩ tới bàn tay phải co quắp giơ lên trước mặt hắn trên chòi canh. Hắn nghĩ tới cái chợ Thành Đỏ, đống dưa vàng vỡ. Nếu là hắn, nếu có người cho hắn một cơ hội trả cái nợ ấy, hắn có nói dối không?
Hắn không biết. Hắn đã từng mang một lời thề bảy năm để trả một món nợ.
Ngày hai mươi hai, cả Trạm Bảy Giếng kéo tới giếng thứ nhất.
Bảy ông già của hội giếng ngồi trên thành giếng đá, mỗi người đại diện một giếng, áo vải sạch nhất của họ, khăn quấn đầu trắng. Người già nhất mù một mắt, râu dài tới ngực. Xung quanh, người đứng chật, trèo lên mái nhà, ngồi trên lưng thằn lằn cát. Gió sa mạc thổi qua, mang theo cát bạc lấp lánh.
Ông Hầu nói trước. Ông nói hay. Ông kể chuyện chòi canh, chuyện kiếm nguyện, chuyện cái kho bị phá. Ông gọi gã gác lên, gã gác nói đêm nào cũng thấy thằng kia làm gì đó với kiếm. Ông nói ông không tiếc mười mấy viên linh thạch hàng hỏng, ông chỉ tiếc cái luật giếng bị người ngoài lợi dụng.
Rồi ông Bốn, người cai mỏ lưng gù, được gọi lên. Ông già đứng trước hội giếng, xoắn cái mũ trong tay, nói rằng tầng ba sụp ở vách phía tây, mà vách phía tây là chỗ ông Hầu cấm thợ đụng vào từ ba năm nay. Ông Hầu nhìn ông Bốn. Ông Bốn không nhìn lại.
Rồi ông già mù một mắt hỏi: ai là người ở dưới đó?
Kế bước ra từ đám đông.
Cả bãi giếng im lặng. Cả Trạm biết chuyện ba năm trước ở chợ Thành Đỏ. Cả Trạm biết thằng kiếm không vỏ là đứa nào. Trác đứng cạnh bà Khói, nhìn Kế đi tới trước bảy ông già, tay trái buông thõng, tay phải co quắp bên hông.
– Nói, – ông già mù một mắt bảo.
Kế đứng im một lúc. Hắn nhìn ông Hầu. Ông Hầu khẽ gật đầu với hắn, rất nhẹ, như người ta gật đầu với một người đã thỏa thuận xong.
Rồi Kế quay sang hội giếng.
– Tôi ở dưới đó, – hắn nói. – Trần sụp vì cái kho sau vách tầng ba. Vách mỏng. Tôi đẽo cái kho đó, ba năm trước, ông Hầu thuê.
Một tiếng ồ chạy qua đám đông như gió qua cỏ.
– Người này, – Kế không chỉ tay, chỉ hất cằm về phía Trác, – cắt đá theo thớ. Không rung. Tôi đứng bên kia đá, tôi nghe. Không rung. Hắn kéo mười bốn người lên. – Kế ngừng một chút. – Mười bốn. Tôi đếm.
Rồi hắn quay lưng, đi về chỗ đám đông, không nhìn ai.
Hội giếng bàn với nhau không lâu. Ông già mù một mắt đứng dậy, tuyên: luật giếng được giữ. Mỏ số Bảy xóa nợ cho Đặng Văn Khoai. Văn tự phải đốt trước giếng thứ nhất, ngay bây giờ.
Ông Hầu không cười nữa. Ông lấy trong ngực áo ra tờ giấy ố vàng có dấu điểm chỉ đỏ, đưa cho ông già mù. Ông già cầm nó, đưa vào ngọn đuốc. Tờ giấy cháy cong lên, đen lại, tàn bay lên trời theo gió.
Bèo đứng nhìn ngọn lửa. Con bé không khóc. Nó chỉ đứng nhìn cho tới khi tờ giấy cháy hết, mẩu tàn cuối cùng bay đi, rồi nó quay người chạy về phía nhà ông thầy thuốc, nơi Khoai đang nằm, chạy như đứa trẻ chạy về nhà.
Còn cái kho dưới lòng núi, hội giếng không nói gì. Kho trong mỏ là việc của mỏ. Hàng của Thái Nhạc là việc của Thái Nhạc. Trác thấy gã áo nâu rời bãi giếng trước khi mọi người giải tán.
Trưa, Trác tới căn nhà cửa lưu ly. Mười bốn đêm canh bãi, năm viên một đêm, giờ nợ của Khoai đã xóa thì công ấy là của hắn. Ông Hầu đếm đủ bảy mươi viên lên mặt bàn hồng mộc, không thiếu một viên, không nói một lời. Lá bùa hàn trên xà vẫn nhỏ giọt xuống chậu đồng, tí tách.
Lúc Trác vơ chỗ linh thạch vào túi, ông Hầu mới mở miệng, giọng vẫn ngọt.
– Cậu kiếm sư. Sa mạc rộng lắm.
Trác nhìn ông ta một lúc, rồi đi ra.
Chiều hôm ấy, Trác tìm thấy Kế ngồi ở thành giếng thứ bảy, cái giếng xa nhất.
Hắn đứng cách Kế mấy bước. Kế không quay lại.
– Hầu hứa xóa nợ cho anh, – Trác nói.
– Ừ.
– Sao anh không nói theo ông ta?
– Vì chuyện dưới hầm là thật. – Kế nhìn xuống lòng giếng. – Không phải vì cậu.
Trác im một lúc. Rồi hắn nói câu mà hắn đã mang trong cổ họng suốt hai mươi ngày.
– Tôi xin lỗi.
Kế quay lại. Lần đầu tiên, Trác thấy trên mặt hắn có một thứ gì đó. Không phải giận. Gần với mệt hơn.
– Xin lỗi để cậu nhẹ, – Kế hỏi, – hay để tôi nhẹ?
Trác không trả lời được.
Kế giơ bàn tay phải lên, nhìn nó, như nhìn một con vật nuôi đã già.
– Nó không mọc lại, – hắn nói. – Cậu mang nó theo. Như tôi mang.
Hắn đứng dậy, đi.
Hai ngày sau, ngày hai mươi bốn, lúc gần trưa, có một thứ ánh sáng trắng vạch qua bầu trời Trạm Bảy Giếng từ phía đông, nhanh như sao băng giữa ban ngày. Người ta ngửa mặt lên nhìn. Ánh sáng ấy hạ xuống ngay giữa quảng trường trước giếng thứ nhất, và khi nó tắt, đứng trên một thanh phi kiếm trắng như ngà, áo trắng bám đầy bụi đường, là Mẫn Khiêm.
— Hết chương 15 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe