Chương 23: Mẫn Khiêm dưới đáy biển
Người ta trói Mẫn Khiêm vào một cột đá giữa cái hang trong lòng Rạn Đen, nước ngập tới ngực, bằng một sợi dây rong to bằng cổ tay quấn bảy vòng.
Trác thấy hắn khi vừa ngoi lên khỏi mặt nước trong hang. Áo trắng đã thành màu xám bùn, rách một bên vai. Tóc bết xuống trán. Môi tím vì ngâm nước biển lạnh suốt một đêm. Nhưng hắn vẫn ngẩng đầu, và khi thấy Trác, hắn mỉm cười, một nụ cười méo đi vì môi đã nứt.
– Lạc… Trác, – hắn nói. Giọng khàn đặc. – Ta tìm được cậu rồi.
– Anh tìm được Rạn Đen.
– Thì cũng là tìm được.
Kình Sấm ngồi xổm trên tảng đá phẳng giữa hang, chỗ hôm trước. Trên đầu gối nó đặt ngang một thanh kiếm trắng có vân như mạch băng. Tuyết Mạch. Lưỡi kiếm trần, vỏ kiếm trắng như ngà nằm dưới chân con kình, bị giẫm nứt một đường.
Lần này hang không có chợ. Không ai bày hàng trên các bậc đá. Chỉ có những người đứng đầu các rạn ngồi rải rác, im lặng, và hàng chục con kình trẻ nửa người đứng dọc mép nước.
– Nó tự chèo ra, – Kình Sấm nói, không chào. – Một mình. Không lưới, không lao. Đứng giữa biển gọi tên mày như con gà mái lạc ổ. – Nó gõ ngón tay lên lưỡi Tuyết Mạch. – Bọn tao kéo nó xuống thì nó không rút kiếm. Nó để yên cho bọn tao kéo. Mày biết nó là ai không?
– Biết.
– Nó tự khai. – Kình Sấm nhếch mép. – Con trai thằng vua lưới. Thằng cầm đầu núi tuyết. Nó nói tên cha nó ra như người ta khoe một món đồ quý. – Con kình đứng dậy, cầm Tuyết Mạch chĩa xuống, mũi kiếm chỉ thẳng vào ngực Mẫn Khiêm qua mặt nước. – Sáng mai nước ròng. Nước ròng thì tao treo nó lên mũi đá ngoài cửa hang cho thuyền săn thấy. Để thằng cha nó biết mất con là thế nào.
Trác bước xuống nước. Hắn đi tới, đứng giữa cột đá và tảng đá phẳng, nước ngang ngực, thanh kiếm quấn rong vẫn ở trên lưng.
– Anh treo anh ấy lên thì anh thua, – hắn nói.
– Mày nói lại coi.
– Thuyền săn thấy xác con trai minh chủ treo trên đá Rạn Đen. – Trác nói chậm, như đặt từng viên đá lót đường. – Cha anh ấy không mất con. Cha anh ấy được một cái cớ. Cả Chính Đạo Minh sẽ ra biển. Không phải ba thuyền. Ba trăm. Họ không cần lưới nữa, họ đem bùa lửa. Rạn Đen, Rạn Rêu, Rạn San Hô Trắng. – Hắn không quay lại nhìn ai, nhưng hắn biết những người đứng đầu các rạn đang nghe. – Anh muốn trả thù cho em gái anh. Anh treo anh ấy lên thì anh trả thù cho em gái anh bằng mạng của tất cả những đứa em khác.
Kình Sấm không nói gì. Mũi Tuyết Mạch vẫn chĩa vào Mẫn Khiêm.
– Nó là con thằng vua lưới, – con kình gầm lên.
– Anh ấy là người duy nhất trên núi tuyết đi tìm.
Trác quay lại nhìn Mẫn Khiêm. Nước biển lạnh làm răng hắn đánh vào nhau, nhưng hắn đã ngẩng đầu lên cao hơn, và hắn đang nhìn Trác với một vẻ mặt mà Trác không đọc được.
– Anh ấy tự đi lục sổ Hình đường, – Trác nói. – Tự đi lục sổ chi của tông. Tự bay qua sa mạc. Tự mang ba thùng yêu đan về núi, giữ ở chỗ của mình, không giao cho ai. Rằm tháng Tám, ở Kiếm Hội, mười một tông ngồi một chỗ. Anh ấy định đặt ba cái thùng đó trước mặt họ. Anh treo anh ấy lên thì ba cái thùng đó nằm trong kho của cha anh ấy mãi mãi.
Cái hang im lặng. Chỉ có tiếng nước nhỏ giọt từ vòm đá.
Mẫn Khiêm lên tiếng. Giọng hắn vẫn khàn, nhưng hắn nói rõ từng chữ, như ở quán trà bà Nghê.
– Ta tới để báo cho cậu một chuyện.
Trác quay lại.
– Bảy ngày trước có một đệ tử ngoại môn được thả về từ biển, – Mẫn Khiêm nói. – Ninh Khải. Ta đang ở Vịnh Muối, ở trạm hải phòng. Ta tới đó để xem cái kho đá cuối bến. Họ không cho ta vào. Họ nói không có lệnh tông chủ thì chân truyền cũng không vào. – Hắn ho, nước biển trào ra khóe miệng. – Ninh Khải về, kể hết. Kể cái lưới, kể lũ trẻ, kể cậu không giết ai. Người cầm roi trên thuyền bảo nó câm, nhưng nó vẫn kể, kể cho ta. Rồi nó kể về hạt châu. Lệnh bảy năm của cha ta. Viên đá xám sáng xanh.
Hắn ngừng lại. Hắn nhìn vào chuôi kiếm trên lưng Trác.
– Cha ta sai ta xuống Hạc Kiều, – hắn nói, – để tìm di vật Cô Tùng. Ông nói cụ thể: một hạt châu. Ông nói đó là vật chứng chống Huyết Ảnh. Ta tin. – Giọng hắn không đổi, nhưng Trác thấy hai bàn tay bị trói sau cột đá của hắn đang siết lại. – Đêm Ninh Khải về, trạm hải phòng thả một con chim đưa thư về núi. Ta biết họ báo gì. Ta mất mấy ngày mới kiếm được một chiếc xuồng không ai hỏi tới. Ta không dám bay phi kiếm qua biển, ở đây thấy ánh kiếm trên trời là người ta ném lao. Ta đi tìm cậu để nói: cha ta biết cậu đang ở đâu rồi. Cậu phải đi.
Không ai nói gì một lúc lâu.
Kình Sấm hạ mũi Tuyết Mạch xuống. Nó không tra kiếm vào vỏ. Nó cầm thanh kiếm trong tay, nhìn những đường vân như mạch băng trên lưỡi.
– Mày nói, – nó nói với Trác, không nhìn hắn, – rằm tháng Tám. Kiếm Hội. Mười một tông.
– Phải.
– Mày làm gì ở đó?
Trác nhìn bà Triều. Bà nằm ở bậc đá thấp nhất, như hôm trước, không động đậy. Rồi hắn nhìn con kình.
– Tôi đưa cái hồ lạnh ra trước mặt họ.
Một tiếng ồ nhỏ chạy qua đám kình trẻ dọc mép nước.
– Mày lấy gì? – Kình Sấm hỏi. – Lời một đứa lai? Người đất liền tin lời một đứa lai?
– Ba thùng đan. – Trác hất cằm về phía Mẫn Khiêm. – Lời anh ấy. Và cái này.
Hắn rút thanh kiếm khỏi lưng, giơ lên. Dưới ánh rêu phát sáng trong hang, viên đá ở đầu chuôi xám đục, im lìm.
– Nước mắt của Sương, – hắn nói. – Khóc ra ở trên hồ lạnh.
Kình Sấm nhìn viên đá rất lâu.
– Rằm tháng Tám, – cuối cùng nó nói. – Hai tháng. – Nó bước xuống nước, đi tới cột đá. Nó dùng Tuyết Mạch, gọn, một nhát, cắt sợi dây rong quấn bảy vòng quanh người Mẫn Khiêm. Khiêm chúi về phía trước. Trác đỡ lấy hắn. – Mày đưa cái hồ ra được thì tao chờ. Không được, hoặc mày chết trên núi, thì đêm rằm tháng Tám tao kéo cả biển lên. Lần đó không ai cản được.
– Được.
– Còn cái này. – Kình Sấm giơ Tuyết Mạch lên. – Tao giữ. Rằm tháng Tám nó không ra được trước mười một tông thì nó không cần kiếm nữa.
Trác nhìn Mẫn Khiêm. Khiêm đã đứng vững trên đôi chân tê dại, một tay bám vào vai Trác. Hắn nhìn thanh kiếm của mình trong bàn tay xám bóng của con kình. Thanh kiếm hắn đã cắt ngón tay thề trên đó ở lò mổ bến Cá Chạch.
– Giữ đi, – Mẫn Khiêm nói.
Con kình nhìn hắn, hơi nheo mắt.
– Ta đã thề trên nó một lần, – Khiêm nói. – Thề đưa một người ra trước mười một tông, xét công khai. Người đó chết trên thuyền của ta trước khi tới được núi. – Hắn đứng thẳng lên, thôi bám vào vai Trác. – Lần này ngươi giữ nó. Rằm tháng Tám ta không đứng được ở Kiếm Hội thì ngươi giữ luôn.
Ông Tư Hàu chở Mẫn Khiêm về Rạn San Hô Trắng trên lưng. Khiêm không biết lặn lâu. Người ta ấn vào miệng hắn một cái túi sứa như ấn cho Bèo. Bèo bám trên lưng dì Ngần bơi bên cạnh, ngậm túi sứa của mình, nhìn hắn bằng đôi mắt khó chịu của đứa móc túi nhìn một đứa móc túi khác vừa làm xong một vụ đẹp.
Ở Rạn San Hô Trắng, người ta đặt Khiêm nằm trên cát ấm, đắp tấm vải rong, cho uống nước mưa. Hắn ngủ một mạch tới chiều.
Khi hắn tỉnh, người đầu tiên hắn thấy là Bèo. Con bé ngồi xổm cạnh đầu hắn, hai tay ôm gối, nhìn xuống như nhìn một con cá vừa vớt lên chưa biết có đáng tiền không.
– Hồi ở Hạc Kiều, – nó nói, không chào, – cái ông áo xám chết trên thuyền anh. Tui nói anh giết.
Khiêm nhìn nó.
– Ta đoán vậy. Nhìn mặt cô hôm đó là ta đoán được.
– Giờ tui hỏi thẳng. Anh giết không?
– Không.
Bèo nheo mắt. Con bé nhìn hắn rất lâu, cái nhìn nó vẫn dùng để đoán xem trong túi một người lạ có bao nhiêu tiền.
– Người giết người thì không tự chèo xuồng ra biển kêu tên người ta tới khản cổ, – cuối cùng nó nói. – Tui tính lại. Tui nợ anh một câu xin lỗi. – Nó đứng dậy, phủi cát. – Mà tui không xin. Anh làm mất cái kiếm rồi, anh nghèo hơn tui. Người nghèo hơn tui thì tui không xin lỗi.
Nó đi. Khiêm nằm nhìn theo, và lần đầu tiên từ lúc bị kéo xuống biển, hắn bật cười, cười tới mức ho ra nước.
Trác đang ngồi cách đó vài bước, mài con dao cùn của ông Bảy lên một hòn đá. Không phải để mài sắc. Chỉ để tay có việc làm.
Khiêm nhìn hắn một lúc. Rồi nhìn dải vảy bạc trên cổ hắn, giờ đã khô, xám lại.
– Hôm ở kiếm đài cầu Ba Mươi, – Khiêm nói, – ta thấy chỗ đó.
– Tôi biết. Anh nhìn nó.
– Ta tưởng là vết bỏng. – Khiêm im một lúc. – Cha ta có một cái sẹo bỏng trên mu bàn tay trái. Bỏng băng. Ông nói bị từ lúc còn trẻ, ở một chỗ rất lạnh. – Hắn nhìn lên vòm trời đang ngả màu cam. – Ta không hiểu vì sao ta lại nghĩ tới chuyện đó.
Trác không nói gì.
– Cái hạt châu đó, – Khiêm nói. – Là gì?
Trác kể. Không phải kể hết. Hắn kể về Sương, về bà Triều, về cái hồ lạnh trên núi tuyết mà Sương gọi là Hàn Trì. Hắn kể người canh hồ trẻ tên Thiết Chinh. Hắn kể viên đá. Hắn không kể về cái giếng, về bàn tay đeo nhẫn ba vòng, về giọng nói Tìm hạt châu. Chưa.
Mẫn Khiêm nghe hết. Mặt hắn không trắng ra như những lần trước. Nó chỉ lặng đi, như mặt hồ không còn gió.
– Hàn Trì, – hắn lặp lại. – Sau đỉnh Thái Nhạc có một cái hồ. Cấm đệ tử lên. Người ta nói ở đó có cấm chế cổ, nước lạnh tới mức đông cả hồn người. Ta lên năm tuổi đã nghe dọa như vậy. – Hắn ngồi dậy. – Trong viên đá có gì?
– Tôi không biết. Chưa ai mở.
– Mở được không?
Trác quay sang nhìn bà Triều. Bà đang nằm ở mép đầm cách đó không xa, đuôi chìm trong nước, mắt nhắm như ngủ. Nhưng bà không ngủ. Bà đã nghe hết.
Bà mở mắt.
– Được, – bà nói. – Lệ châu chỉ mở cho hai thứ cùng một lúc. Máu cùng dòng với người khóc ra nó. Và một người đã thương người khóc ra nó.
Bà nhìn Trác.
– Máu của con, – bà nói. – Và người thương nó.
— Hết chương 23 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe