AI Truyện
Thanh kiếm không vỏ núi Cô Tùng

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Cái chuông không có tiếng

Thanh kiếm không vỏ núi Cô Tùng · Chương 3/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Cái chuông không có tiếng

Trác đếm đủ hai mươi viên linh thạch lên mặt chiếu, xếp thành bốn hàng, mỗi hàng năm viên. Trong túi hắn còn lại mười bốn viên.

Bèo nhìn bốn hàng đá trắng, rồi nhìn hắn, mắt nheo lại.

– Ông không trả giá?

– Không.

– Người ta ai cũng trả giá. – Nó nói như bị xúc phạm. – Tui nói hai mươi là để ông trả mười hai. Đồ khùng.

Nhưng nó vẫn vơ hết chỗ đá vào cái túi vải buộc trong cạp quần, rồi đặt cái hộp gỗ lên chiếu, đẩy về phía hắn.

Trác mở nắp hộp.

Bên trong lót một mảnh lụa đỏ đã sậm màu như tiết. Trên lụa có một cành tùng khô, lá kim đã vàng và rụng gần hết. Bên cạnh cành tùng là một cái chuông đồng nhỏ, bằng đầu ngón tay cái, buộc vào một đoạn tua đỏ đã bị cắt đứt.

Cái chuông nguyên vẹn. Không nứt.

Trác nhấc nó lên. Nó nhẹ hơn hắn tưởng. Trên vai chuông có khắc hai chữ nhỏ, nét chữ tròn, hơi nghiêng, của một bàn tay con gái tự khắc chứ không phải thợ đúc khắc. Hắn không cần đưa lại gần đèn để đọc.

Nguyệt Cầm.

Hắn ngồi im rất lâu, lâu tới mức Bèo phải hắng giọng.

– Của ai?

– Sư tỷ tôi.

Bèo không hỏi nữa.

Thôi Nguyệt Cầm hơn hắn năm tuổi. Năm hắn mười một, chị mười sáu, là người duy nhất trong viện được sư phụ cho phép trèo lên mái nhà kho ngồi chơi, và chị hay kéo hắn lên theo. Mùa hè, hai chị em ngồi trên mái ngói nóng, chị lấy trong túi ra một miếng kẹo mạch nha dẻo quánh dính vào giấy, bẻ đôi, đưa hắn nửa nhỏ hơn. Rồi chị tháo cái chuông ở tua kiếm của mình ra, gõ lên nó.

"Ba nhẹ, một nặng. Nghe chưa, thằng Trác? Ba nhẹ, một nặng."

"Để làm gì?"

"Chuông Cô Tùng nhớ được. Lúc chủ nó chết, nó giữ mười hơi thở cuối cùng. Ai có khí Cô Tùng gõ đúng nhịp này thì nghe lại được." Chị cười, khoe cái răng khểnh. "Sư phụ bảo vậy. Chị chưa thấy ai nghe bao giờ. Chắc để dọa tụi nhỏ không dám làm mất chuông."

Hắn đã tin nửa phần. Đứa trẻ mười một tuổi tin cái gì cũng chỉ tin nửa phần.

Bây giờ hắn nhìn cái chuông trong lòng bàn tay mình.

– Mười hơi thở, – hắn nói thành tiếng, không phải nói với Bèo.

– Cái gì mười hơi thở?

Hắn kể cho con bé nghe, vắn tắt. Hắn không biết vì sao mình kể. Có lẽ vì trong căn phòng trọ ba mươi đồng một đêm này, ngoài con bé ra không còn ai để nói.

Bèo nghe xong, nhìn cái chuông như nhìn một con gà biết đẻ trứng vàng.

– Vậy gõ đi. Gõ coi đứa nào giết bả.

Trác đặt cái chuông lên mặt chiếu. Hắn ngồi thẳng lưng, thở ra hết, thở vào chậm. Khí trong đan điền hắn đầy, cuồn cuộn, như mọi ngày kể từ năm mười bảy tuổi. Nó không giống khí của hắn hồi còn ở Cô Tùng, thứ khí ấm và chậm như nước suối. Từ ngày khắc nguyện, khí của hắn có mũi. Nó đi đâu là đâm vào đó.

Hắn dồn khí xuống đầu ngón tay giữa, gõ.

Một. Nhẹ.

Cái chuông kêu một tiếng nhỏ, trong.

Hai. Nhẹ.

Ba. Nhẹ.

Bốn. Nặng.

Cái chuông rít lên.

Không phải tiếng chuông. Là tiếng như khi người ta lấy mũi dao cào lên mặt nồi gang, chói tới mức Bèo bịt hai tai, ngã ngửa ra sau. Phòng bên cạnh có người đập vách thình thình. Nhưng bên dưới tiếng rít ấy, Trác nghe thấy một thứ khác. Tiếng gió. Gió núi, gió có tuyết, thứ gió mà ai đã sống ở Cô Tùng một mùa đông thì không bao giờ quên được, gió rít qua rừng tùng như ai đó thổi vào miệng một cái chai không. Rồi một hơi thở, rất gần, ngắn, gấp, của một người đang chạy.

Rồi hết.

Cái chuông nằm im trên chiếu. Trác cầm nó lên. Nó vẫn nguyên, nhưng trong tay hắn, nó nhẹ hơn lúc nãy một chút. Không phải nhẹ về sức nặng. Nhẹ như một cái giỏ vừa bị rơi mất một thứ gì đó.

Hắn biết mình vừa làm mất một phần của mười hơi thở ấy. Có thể là một hơi. Có thể là hơn.

– Gì vậy trời? – Bèo vẫn còn ôm tai. – Ông làm cái gì vậy?

– Gõ hỏng.

– Gõ lại.

– Không.

Hắn nắm cái chuông trong lòng bàn tay, nắm chặt. Hắn hiểu vì sao nó rít. Nhịp đúng, nhưng khí sai. Khí phải mảnh, phải dừng đúng chỗ, như sư tỷ gõ lên chuông hồi chiều hè trên mái kho. Còn khí của hắn bây giờ không biết dừng. Nó là khí của một lời thề. Nó chỉ biết đi tới.

Hắn nghĩ tới con dao lóc của ông Bảy, đi vào giữa thớ thịt, dừng ngay trước xương, không thừa không thiếu.

Hắn gói cái chuông lại trong mảnh lụa đỏ, bỏ vào hộp, đậy nắp, cất vào trong áo, sát ngực.

– Bao giờ ông gõ lại? – Bèo hỏi.

– Khi nào tôi biết dừng.

Sáng mùng mười, Bèo dắt hắn đi hỏi những người ngủ dưới gầm cầu.

Họ là một thành phố khác nằm bên dưới thành Hạc Kiều. Một bà già bán nhang sống trong cái chòi lá dưới cầu Mười Chín, một ông lão què kéo xe nước, mấy đứa con nít mặt mũi lem luốc đánh đáo bằng đồng xu, và một người chèo đò ngủ ngay trên đò của mình, đò buộc vào trụ cầu Hai Mươi Hai, cách chỗ lều lão Kỵ chừng hai mươi bước.

Người chèo đò ngoài bốn mươi, gầy, mặt đen như đáy nồi. Ông ta không muốn nói. Bèo đưa ông một gói xôi lạc mua ở đầu cầu, ông ta mới nói.

– Chiều hôm kia có người tới tìm lão, – ông ta nói, mắt nhìn ra kênh. – Cỡ giờ Thân. Mặc áo xám, đội nón lá. Đứng nói chuyện với lão một lúc rồi đi.

– Mặt?

– Nón che. – Ông ta nhai xôi. – Nhưng mà cái giày. Cái giày nó lạ. Giày vải trắng, trắng tinh. Hôm đó mới mưa, lối dưới gầm cầu bùn tới mắt cá. Thằng đó đi vô đi ra, giày không dính một vết bùn.

Trác và Bèo nhìn nhau.

Người phàm đi qua bùn thì dính bùn. Người tu tới Trúc Cơ mới đi được như lá rụng trên mặt nước, chân chỉ chạm đất cho có. Trúc Cơ, và đã quen đi như thế tới mức không cần nghĩ.

– Đêm đó ông có nghe gì không? – Trác hỏi.

– Canh ba. – Người chèo đò nuốt miếng xôi. – Nghe lão ho. Lão ho cả đêm, đêm nào cũng ho, tôi quen rồi. Rồi lão ngưng ho. Rồi nghe cái tõm. – Ông ta nhìn Trác lần đầu tiên. – Tôi không ra coi. Ở dưới gầm cầu này, nghe tiếng tõm lúc canh ba thì không ai ra coi hết.

Trác đứng dưới gầm cầu Hai Mươi Mốt một lúc lâu sau khi người chèo đò đã quay lưng nằm xuống. Lối đất ven kênh bây giờ đã khô, đầy dấu chân người ta đứng coi vớt xác hôm qua. Không thể nào tìm thấy dấu chân của một người đi không để lại dấu chân.

Hắn nghĩ: chiều hôm kia, giờ Thân. Hắn tới Hạc Kiều lúc giờ Mùi. Gặp Bèo trên cầu Mười Bảy lúc gần giờ Thân. Gặp lão Kỵ giờ Tuất. Vậy là cùng một buổi chiều, có hai người lạ cùng tới hỏi lão Kỵ về một món đồ. Hai người, hai thanh kiếm. Người tới trước đã tới lại lúc canh ba.

Hắn đã tới Hạc Kiều vì nghe đồn một gã Huyết Ảnh già đang bán đồ của Cô Tùng. Gã áo xám kia hẳn cũng nghe đúng cái tin đồn ấy.

Trưa, trời đổ mưa.

Trác đi bộ xuống bến Cá Chạch. Lò mổ của ông Bảy đang có hàng: một chiếc thuyền chở ba con heo rừng răng kiếm vừa cập bến, mấy người phụ việc đang lấy sào khiêng chúng lên sân. Ông Bảy đứng dưới mái hiên, tay cầm con dao phay, chỉ trỏ. Ông thấy Trác đi vào sân, mặt không đổi.

– Đã bảo về.

Trác không trả lời. Hắn tháo tay nải đặt vào góc, cởi áo ngoài, gấp lại đặt lên tay nải, chỉ giữ thanh kiếm trên lưng. Rồi hắn đi tới cái thùng gỗ đựng muối hột ở góc sân, thùng đã cạn tới đáy, cầm cái xẻng gỗ dựa bên cạnh lên, đi ra chỗ mấy bao muối chất dưới mái hiên, xúc muối đổ vào thùng.

Ông Bảy nhìn hắn. Mấy người phụ việc nhìn ông Bảy. Ông Bảy quay đi, chỉ trỏ tiếp.

Trác xúc đầy ba thùng muối. Rồi hắn lấy chổi tre quét máu đọng ở rãnh sân, xả nước, quét lại. Rồi hắn khiêng mấy tấm phên tre lót thịt ra bến, ngâm xuống nước, chà bằng xơ dừa, phơi lên giàn. Mưa rơi trên lưng hắn, trên thanh kiếm quấn vải. Người phụ việc trẻ nhất, một thằng nhỏ chừng mười bốn tuổi, mấy lần định nói gì đó với hắn rồi lại thôi.

Ông Bảy làm thịt xong ba con heo rừng. Ông không nhìn về phía Trác thêm một lần nào. Tới chiều, khi mấy người phụ việc đã về hết, ông ngồi xuống cái ghế đẩu dưới mái hiên, rút cái điếu cày dựng sau cột, nhồi thuốc, hút một hơi dài, tiếng điếu kêu ro ro như con mèo.

Trác vẫn đang chà phên.

– Mày tên gì? – ông Bảy nói.

– Lạc Trác.

– Lạc. – Ông lặp lại, nhả khói. – Mai giờ Dần. Không lương. Không cơm. Mày làm mẻ một con dao của tao, tao trừ mày một ngày, đủ ba ngày thì cút. – Ông gõ điếu cày vào chân ghế, tàn thuốc rơi xuống nền ướt, tắt xèo. – Tao không dạy mày kiếm. Tao dạy mày lóc thịt. Mày học được gì từ đó là việc của mày.

Trác đặt tấm phên xuống.

– Dạ.

– Đừng có dạ. Tao không phải thầy mày. Đi trình diện đi, trễ rồi.

Tối đó, Lành ở Tuần Kiều Ty. Ông ta ngồi sau cái bàn, mặt còn mệt hơn hôm qua.

– Không ra ai hết, – ông ta nói trước khi Trác kịp hỏi. – Người áo xám, giày trắng, Trúc Cơ. Tôi đã hỏi cả sổ đăng ký tu sĩ vào thành mười ngày qua. Có bốn mươi mốt người Trúc Cơ vào thành. Không người nào giống. – Ông ta xoa mặt. – Còn hai ngày, cậu Lạc.

Trác về quán trọ lúc canh một.

Bèo không ở đó. Buổi chiều con bé đã nói nó không ngủ ở quán. "Phòng ông có người muốn giết", nó nói, "tui còn muốn sống". Nó ngủ ở cái hốc trong trụ cầu Bốn Mươi, như mọi đêm từ hồi bảy tuổi.

Trác nằm xuống chiếu, thanh kiếm bên người. Cái hộp gỗ nằm trong áo, sát ngực, cứng và vuông.

Hắn nằm nghĩ.

Gã áo xám đã giết lão Kỵ vì cái chuông. Gã đã lục lều lão Kỵ và không tìm thấy nó. Vậy thì gã vẫn đang tìm. Gã sẽ hỏi: ai đã vào lều lão Kỵ đêm đó? Câu trả lời cả cầu Hai Mươi Mốt đều biết. Thằng kiếm không vỏ. Nhưng thằng kiếm không vỏ đã nằm trong ngục Tuần Kiều Ty cả buổi sáng, đã bị người ta khám người. Không có chuông.

Vậy thì gã sẽ hỏi tiếp: ai dẫn thằng kiếm không vỏ tới lều lão Kỵ?

Trác ngồi bật dậy.

Hắn không đi bằng cửa. Hắn mở cửa sổ, nhảy xuống mái hiên quán bên dưới, từ mái hiên nhảy xuống lối đi ven kênh, chạy. Cầu Mười Tám. Cầu Hai Mươi. Cầu Hai Mươi Lăm. Đèn lồng chợ đêm lùi lại sau lưng hắn, thành phố tối dần, kênh rộng dần, cầu thưa dần. Cầu Ba Mươi Lăm. Cầu Ba Mươi Tám.

Cầu Bốn Mươi là một cây cầu đá cũ, ba nhịp, trụ giữa to như cái tháp. Ở chân trụ giữa có một cái hốc mà nước lũ đã khoét vào đá, đủ cho một đứa trẻ nằm co.

Trăng mùng mười bị mây che kín. Dưới gầm cầu chỉ có ánh sáng mờ hắt xuống từ một cái đèn lồng ai đó treo quên trên lan can.

Trong ánh sáng ấy, Trác thấy hai cái bóng.

Một cái bóng nhỏ, ngồi bệt dưới đất, lưng dựa vào trụ cầu. Một cái bóng cao, đứng, mặc áo màu xám. Giữa hai cái bóng có một vệt sáng mảnh như sợi chỉ, nằm ngang, và đầu sợi chỉ ấy đang kề vào cổ Bèo.

— Hết chương 3 —

Mục lục Thanh kiếm không vỏ núi Cô Tùng

  1. 1Sợi vải quấn kiếm trên cầu Mười Bảy10 phút
  2. 2Ông Bảy mổ trâu đọc vết chém12 phút đọc
  3. 3Cái chuông không có tiếng11 phút đọc
  4. 4Con dao cùn ở bến Cá Chạch10 phút đọc
  5. 5Chân truyền Thái Nhạc uống trà quán bà Nghê11 phút đọc
  6. 6Ba trận ở kiếm đài cầu Ba Mươi11 phút đọc
  7. 7Chuyện người anh của ông Bảy10 phút đọc
  8. 8Mười hơi thở của sư tỷ11 phút đọc
  9. 9Con hạc đứng một chân11 phút đọc
  10. 10Bà già hút thuốc ở Thành Đỏ10 phút đọc
  11. 11Nắm cát10 phút đọc
  12. 12Chim báo bão10 phút đọc
  13. 13Hòm hàng có mùi muối10 phút đọc
  14. 14Mười bốn người dưới lòng cát10 phút đọc
  15. 15Luật giếng10 phút đọc
  16. 16Mười bước cát10 phút đọc
  17. 17Đêm bão thứ hai11 phút đọc
  18. 18Thuyền ông Tư Hàu12 phút đọc
  19. 19Con của nàng Sương13 phút đọc
  20. 20Kiếm dưới nước11 phút đọc
  21. 21Chợ Rạn Đen11 phút đọc
  22. 22Thuyền săn cờ hạc11 phút đọc
  23. 23Mẫn Khiêm dưới đáy biển10 phút đọc
  24. 24Mở lệ châu10 phút đọc
  25. 25Lòng xoáy10 phút đọc
  26. 26Thủy triều quay về10 phút đọc
  27. 27Lên bờ10 phút đọc
  28. 28Kiếm Lâm10 phút đọc
  29. 29Người đặt tay lên nắp giếng10 phút đọc
  30. 30Khe sai10 phút đọc
  31. 31Đêm trước Kiếm Hội11 phút đọc
  32. 32Hàn Trì11 phút đọc
  33. 33Mười hơi thở trước Vạn Kiếm Đài12 phút đọc
  34. 34Nguyên Anh không có cơm11 phút đọc
  35. 35Nợ11 phút đọc
  36. 36Vỏ kiếm gỗ tùng10 phút đọc

Về truyện này

Thanh kiếm không vỏ núi Cô Tùng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →