Chương 16: Mười bước cát
– Cờ núi tuyết lần trước tới sa mạc này, – bà Khói nói, – là để đốt.
Mẫn Khiêm đứng ở cửa lều, áo trắng bám bụi đường từ cổ áo xuống tới vạt, tóc rối vì gió phi kiếm. Hắn nghe câu ấy. Hắn không cãi. Hắn cúi đầu xuống, cúi sâu, sâu tới mức Trác thấy được cả cái gáy của hắn, rồi mới thẳng lên.
– Tại hạ biết, – hắn nói.
Bà Khói nhìn hắn một lúc lâu qua làn khói thuốc. Rồi bà gõ tẩu vào thành bếp lò, chỉ vào tấm chiếu.
– Ngồi. Uống trà. Nói xong thì đi.
Mẫn Khiêm ngồi xuống. Hắn cầm chén trà bằng hai tay, như học trò cầm chén trà thầy rót. Trác ngồi đối diện hắn. Bèo ngồi ở cửa lều, chặn lối ra, tay mân mê con dao lam.
– Ta tìm cậu mất mười ngày, – Mẫn Khiêm nói với Trác. – Hỏi ở Thành Đỏ, người ta bảo cậu đi đoàn bà Khói về Trạm Bảy Giếng.
– Người áo xám, – Trác nói.
Mẫn Khiêm đặt chén trà xuống.
– Đêm mười sáu, trên thuyền, ta hỏi hắn suốt từ canh một tới canh ba. Hắn không nói gì. Gần canh tư, ta hỏi lần thứ mười: ai sai ngươi. Hắn nhìn ta. Lần đầu tiên hắn nhìn ta như nhìn một người, không phải như nhìn bức vách. Hắn mở miệng. – Mẫn Khiêm dừng lại. – Ta tưởng hắn sắp nói. Rồi môi hắn đen lại. Từ môi lan vào lưỡi, vào họng. Như người ta đổ mực vào một cái chén. Không tới mười hơi thở.
Bèo ở cửa lều ngừng mân mê con dao.
– Ta về Thái Nhạc, – Mẫn Khiêm nói tiếp. – Báo với cha ta. Cha ta bảo Hình đường sẽ tra. Ta chờ năm ngày, không thấy ai tra. Ta tự đi lục sổ Hình đường. Không có người nào như hắn. Không tên, không quê, không ngày vào tông. – Hắn nhìn vào lòng bàn tay mình. – Rồi ta mang cái xác tới hỏi một đan sư già của Đan đường, người từng dạy ta lúc nhỏ. Ông ấy cạy miệng cái xác ra, nhìn lâu, rồi kéo ta ra chỗ vắng. Ông ấy nói đó là ấn khóa miệng.
– Là gì?
– Một cấm chế. Gieo vào miệng người làm việc kín cho Hình đường từ ngày họ nhận việc. Bị bắt quá ba ngày, hoặc sắp nói ra tên người sai mình, thì ấn phát. – Giọng Mẫn Khiêm đều, nhưng hai tay hắn đã nắm lại trên đầu gối. – Không cần ai đầu độc. Hắn chết vì chính cái miệng hắn.
Bà Khói rít thuốc, không nói gì.
– Ta đem chuyện ấy lên cha ta, – Mẫn Khiêm nói. – Cha ta nghe, gật đầu, nói Hình đường có những cấm chế cũ từ thời tổ sư, tàn nhẫn, ông sẽ cho bãi bỏ. Rồi ông bảo ta lo chuẩn bị Kiếm Hội. – Hắn ngừng. – Ta tin cha ta. Ta tin có kẻ trong Hình đường làm việc sau lưng ông.
– Ai giữ Hình đường? – Trác hỏi.
– Bây giờ là trưởng lão Quách Định. – Mẫn Khiêm nghĩ một chút. – Bảy năm trước là trưởng lão Tiêu Bá Ngôn. Ông ấy tự xin thôi Hình đường từ mùa xuân năm Mậu Tuất, xin đi giữ Kiếm Lâm, chỗ chôn kiếm gãy sau núi. Bảy năm không ra khỏi đó.
Trác ngồi im. Hắn không động đậy. Nhưng bên trong hắn, có một cái gì đó vừa rơi xuống, rất sâu, như hòn đá rơi xuống giếng mà mãi không nghe tiếng nước.
"Tiêu sư huynh, cái giếng kia?"
"Ta xem rồi. Không có gì."
– Tiêu Bá Ngôn, – hắn nói, giọng phẳng hết mức hắn có thể. – Ông ta có đeo nhẫn không?
Mẫn Khiêm nhìn hắn, hơi lạ.
– Ta chưa gặp ông ấy bao giờ. Lúc ta lên núi học kiếm, ông ấy đã ở Kiếm Lâm rồi. – Hắn ngừng. – Sao cậu hỏi vậy?
Trác không trả lời. Bà Khói liếc hắn một cái, rồi quay sang Mẫn Khiêm.
– Cậu tới đây vì cái xác, – bà nói. – Hay vì cái gì khác?
Mẫn Khiêm im một lúc.
– Lục sổ Hình đường không ra gì, ta lục sổ chi của tông. – Hắn nói chậm, như người bước từng bước trên băng mỏng. – Mười năm nay Thái Nhạc mua linh thạch của một mỏ ở Cát Bạc, mỏ số Bảy, mua hết, không tông nào khác được mua. Số linh thạch ấy đủ nuôi trận hộ sơn của ba tông như Thái Nhạc. Ta hỏi Trận đường. Họ nói trận hộ sơn của chúng ta chỉ ăn một phần ba số ấy. – Hắn nhìn bà Khói. – Hai phần ba còn lại đi đâu, ta không biết. Ta tới đây để biết.
Bà Khói nhìn Bèo.
Con bé đứng dậy, đi ra ngoài. Lúc quay vào, nó ôm theo cái chum sành nhỏ đựng dưa muối của bà Khói, vẫn để ở góc bếp từ hôm đầu. Nó thò tay xuống đáy chum, giữa đám dưa cải chua lè, lôi ra một gói vải dầu ướt nhẹp, đặt lên chiếu, mở ra.
Viên yêu đan nằm đó, xanh mờ, sương giá đọng quanh, mùi biển xộc lên át cả mùi dưa.
Mẫn Khiêm nhìn nó. Hắn không đưa tay ra ngay. Khi hắn đưa tay ra, ngón tay hắn chạm vào mặt viên đan rồi rụt lại, như chạm vào một vật vừa lấy ra từ lò.
– Yêu đan biển, – hắn nói. Không phải hỏi.
Trác kể cho hắn nghe về những cái thùng dấu hạc mỗi đêm ở bãi hàng, về mùi muối, về cái kho dưới tầng ba, về Kế đẽo kho ba năm trước. Mẫn Khiêm nghe hết. Mặt hắn trắng dần ra, như hôm ở lò mổ Hạc Kiều khi hắn lật mặt sau cái thẻ ngọc.
– Thái Nhạc có một trạm ở Vịnh Muối, bờ đông, – hắn nói, khi Trác đã kể xong. – Trạm hải phòng. Thuyền săn của chúng ta ra biển từ đó, để trừ yêu loạn. Cha ta đã báo trước Chính Đạo Minh mấy lần: yêu biển đánh vào bờ, thuyền săn là để giữ dân. – Hắn nhìn viên đan. – Đan của những con yêu bị săn được thì nộp về tông, để làm thuốc, làm trận. Ai cũng biết. Không ai biết là nhiều tới cả một kho.
– Sao không chở thẳng từ biển về núi? – Bèo hỏi. – Đi vòng qua sa mạc chi cho xa?
– Dọc bờ bắc là lãnh địa của yêu biển, – bà Khói nói, trước khi Mẫn Khiêm kịp trả lời. – Yêu ngửi thấy đan của đồng loại cách cả chục dặm. Chở qua đó thì thuyền chìm. Cát Bạc thì khác. Cát nuốt mùi. Cát nuốt hết.
Không ai nói gì một lúc lâu.
– Ta sẽ đưa chuyện này ra Kiếm Hội, – Mẫn Khiêm nói.
– Trước mặt cha anh? – Trác hỏi.
– Cha ta là minh chủ. – Mẫn Khiêm ngẩng lên. – Kiếm Hội là chỗ duy nhất cha ta không thể xét một mình. Nếu trong Hình đường có kẻ dùng tên Thái Nhạc để buôn yêu đan, giết người diệt khẩu, thì cha ta sẽ là người đầu tiên muốn biết. – Hắn nói câu ấy thẳng, chắc, như người đặt một viên đá móng.
Trác nhìn hắn. Hắn nghĩ: người này tin điều mình vừa nói. Hắn không biết nên thấy may hay thấy thương.
Đêm hai mươi lăm, bà Khói gọi Trác ra bãi cát sau lều.
Trăng hai mươi lăm chưa mọc. Trời chỉ có sao, và cát bạc dưới chân hắt lên một thứ ánh sáng mờ như sữa loãng.
Bà Khói chỉ vào một chỗ trên cát, cách cái lều chừng mười bước.
– Cắm kiếm xuống đó, – bà nói.
Trác nhìn bà.
– Cắm xuống. Rồi về lều nằm ngủ. Ngủ cách nó mười bước.
– Để làm gì?
– Để cậu biết cái tay cậu còn là cái tay.
Trác đi tới chỗ bà chỉ. Hắn đứng đó một lúc, thanh kiếm trần trong tay. Bảy năm. Từ đêm ông Dụ kéo hắn từ dưới giếng lên, chưa đêm nào hắn ngủ mà thanh kiếm này cách hắn quá một cánh tay. Hồi chưa khắc nguyện, hắn ôm nó mà ngủ, như đứa trẻ ôm gối. Khắc nguyện rồi thì đặt bên người, lưỡi quay ra ngoài.
Hắn cắm kiếm xuống cát. Lưỡi ngập tới một phần ba. Rồi hắn đi về lều, nằm xuống chiếu, quay mặt về phía cửa lều, nơi qua khe hở hắn vẫn thấy cái chuôi kiếm dựng đứng giữa bãi cát như một cái bia mộ nhỏ.
Hắn không ngủ được.
Đan điền hắn trống trải một cách lạ lùng, như căn nhà vừa dọn đi một món đồ to, chỗ cũ còn in vết. Dòng khí của lời thề vẫn chảy, nhưng nó chảy ra ngoài, qua mười bước cát, tới thanh kiếm, như một sợi dây bị kéo căng. Mỗi khi gió thổi, hắn giật mình, tưởng có ai tới gần thanh kiếm. Mỗi khi con hồng tước trong lồng cựa mình, hắn ngồi dậy.
Gần sáng, hắn vẫn còn thức.
Bà Khói ra khỏi lều khi trời vừa hửng, tay cầm tẩu, ngồi xuống cạnh chỗ hắn nằm.
– Ngủ được không?
– Không.
– Không sao. – Bà châm tẩu. – Lần đầu ai cũng không.
Bà rít một hơi.
– Cậu tưởng không có cái kiếm đó thì cậu không là ai hết, – bà nói. – Không phải. Hôm cậu xuống tầng ba kéo mười bốn đứa lên, tôi đứng ở trên, tôi cảm thấy cái khí của cậu dưới đó. Cậu cầm kiếm lỏng tới mức gần như không cầm. – Bà nhả khói. – Lúc đó cậu mạnh nhất từ khi tôi biết cậu.
Trác nằm nhìn lên mái lều, nơi ánh sáng ban mai đang lọt qua những lỗ thủng nhỏ trên vải.
– Lúc ấy cháu không nghĩ tới cái nguyện, – hắn nói.
– Ừ. – Bà Khói đứng dậy, phủi cát. – Đi nhổ kiếm lên đi. Hôm nay cậu vẫn chưa buông được nó đâu. Không sao. Một đêm mười bước. Đêm nào đó sẽ là hai mươi.
Sáng hôm ấy, Mẫn Khiêm ra bãi cát sau lều đúng lúc Trác nhổ kiếm lên. Hai người nhìn nhau, không ai nói gì, rồi đứng cách nhau năm bước, cùng tập kiếm cho tới khi nắng lên tới ngọn cột buồm. Không chạm lưỡi. Mỗi người một bài. Bài của Mẫn Khiêm gọn và đẹp như chữ viết trên giấy hồng điều. Bài của Trác là mười tám thế Cô Tùng hắn tự nhớ lại từ năm mười hai tuổi, có thế còn sứt mất một nửa. Bèo ngồi trên mũi thuyền chấm điểm, tuyên bố người thắng là người đổ ít mồ hôi hơn, rồi không chịu nói đó là ai.
Hai ngày sau đó yên ả. Khoai đã đi lại được, chân bó nẹp tre, chống gậy. Mẫn Khiêm ở lại Trạm, ngủ trong một quán trọ nhỏ, ban ngày đi dò hỏi những người làm ở bãi hàng mỏ số Bảy. Bà Khói chuẩn bị đoàn về Thành Đỏ, ngày mùng một tháng Năm sẽ đi.
Đêm hai mươi bảy, con hồng tước trong lồng không kêu. Nhưng nó cũng không ngủ. Nó đứng trên cái que đậu, xù lông, đầu ngoảnh về phía đông, im lặng.
Trác thấy nó như vậy khi đi ngang qua lều bà Khói gần canh hai. Hắn dừng lại, nhìn theo hướng con chim nhìn.
Trên đỉnh đồi cát phía đông, nơi buổi chiều chỉ có cát, bây giờ có lửa. Mười mấy ngọn đuốc, xếp thành một hàng ngang dọc sống đồi, đứng im. Dưới ánh đuốc, Trác thấy những con thằn lằn cát to như ngựa, và những người cưỡi trên lưng chúng.
Đi giữa hàng đuốc, không cưỡi thằn lằn, là ba người đi bộ. Ba người mặc áo xám. Mặt họ đeo mặt nạ trắng, và trên mặt nạ, dưới ánh lửa, có vẽ một con hạc.
— Hết chương 16 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe