Chương 19: Con của nàng Sương
Trác gạt bàn tay ấy ra trước khi kịp nghĩ.
Hắn ngồi bật dậy, lùi lại trên cát, một tay chụp lấy thanh kiếm bên cạnh. Chỗ sau tai hắn vẫn còn ướt, vẫn còn mở ra khép vào nhè nhẹ, và bây giờ hắn cảm thấy rõ nó, như cảm thấy một cái miệng thứ hai đang thở trên người mình. Hắn đưa tay lên bịt nó lại. Những cái vảy nhỏ cọ vào lòng bàn tay hắn, trơn, mát.
Bà già không đuổi theo bàn tay của hắn. Bà chỉ để tay mình lơ lửng giữa chừng một lúc, rồi đặt lại xuống mặt nước.
– Con sợ nó, – bà nói. – Nó cũng sợ con. Nó nằm im mười mấy năm, hôm qua mới dậy.
– Bà là ai?
– Người ta gọi ta là Triều. – Bà nhìn hắn bằng đôi mắt có mí nặng như mắt rùa. – Còn Sương là con gái út của ta.
Bên cạnh Trác, Bèo ho một tràng, lăn sang một bên, nôn ra một vũng nước biển. Con bé chống tay ngồi dậy, tóc bết vào mặt, nhìn thấy vòng giao nhân đang nằm dọc mép đầm. Nó nhìn những cái đuôi. Rồi tay nó thọc vào cạp quần.
– Đừng, – Trác nói.
– Tui chưa làm gì hết.
– Em đang tìm con dao lam.
– Thì tìm thôi chứ đã làm gì đâu. – Nhưng con bé rút tay ra. Nó ngồi sát vào lưng Trác, thì thầm. – Anh ơi, cá có mặt người.
Từ trên vành san hô phía đông, có tiếng ai đó khịt mũi. Ông Tư Hàu ngồi trên một mỏm san hô trắng như xương, ở trần, cái mai trên lưng ông ướt đẫm lấp lánh dưới nắng. Bên cạnh ông, chiếc thuyền nan bị lật đêm qua đã được kéo lên nằm ngửa, một bên mạn thủng một lỗ to bằng cái nia.
– Mấy đứa tỉnh rồi hả, – ông nói, giọng như không có gì xảy ra. – Thuyền tui người ta kéo về giùm rồi. Lỗ này thì mấy đứa nợ tui.
Bèo nhìn ông, nhìn cái lỗ, rồi nhìn Trác.
– Ai làm thủng thì người đó đền, – nó nói. – Tụi tui trả hai chục viên là trả tiền chèo, không trả tiền thuyền.
Bà Triều quay đầu về phía con bé. Khóe miệng bà động nhẹ, như mặt đầm khi có cá đớp mồi.
Người ta mang tới nước mưa đựng trong vỏ ốc lớn và mấy con sò nướng trên đá nóng. Bèo ăn bảy con. Trác ăn hai, rồi không ăn được nữa.
Bà Triều nằm nửa người trên một bờ cát thoai thoải, cái đuôi xám bạc chìm trong nước đầm. Bà nói chậm. Mỗi câu bà nói như một con sóng phải đi từ rất xa mới tới được bờ.
– Hai mươi hai mùa bão trước, – bà nói, – Sương mười tám tuổi theo cách tính của người. Nó thích đèn. Người đất liền thắp đèn ở Vịnh Muối, đêm nào cũng thắp, đèn chài, đèn bến. Nó bơi vào gần để nhìn. Ta cấm. Nó vẫn bơi. Một đêm nó không về. – Bà dừng lại. – Sáng hôm sau người ta thấy một cái lưới sắt có vẽ bùa trôi ngoài Hòn Khói. Rách một góc. Trong lưới còn mấy cái vảy.
– Một năm sau, – bà Triều nói, – đúng một năm, nó về. Ban đêm. Gầy tới mức ta không nhận ra. Nó kể người ta đưa nó lên một ngọn núi có tuyết, thả vào một cái hồ lạnh. Trong hồ có bốn chục đứa như nó. Giao nhân, rùa, rắn biển, cả một con kình con. Người ta cho ăn đá linh, bắt tu, như người ta vỗ béo con heo. Rồi tới mùa thì mổ lấy đan. – Bà nhìn vào cái tay nải của Trác, chỗ viên yêu đan đã thôi sáng. – Nó gọi cái hồ đó là Hàn Trì. Ta nghe cái tên đó từ miệng nó.
Trác ngồi im. Hắn nghĩ tới những quả cầu xanh nằm trong muối hột.
– Có một người canh hồ giúp nó trốn, – bà Triều nói. – Một người trẻ, áo trắng. Nó kể về người đó nhiều tới mức ta biết là nó thương người đó. Người đó tên Thiết Chinh.
Trác không nghe thấy tiếng sóng nữa.
– Đêm ấy có một chiếc thuyền chờ nó ở sau Hòn Khói, – bà Triều nói tiếp, không nhìn hắn, như để cho hắn có chỗ mà ngồi im. – Nó bảo ta: người núi tuyết đang lục từng rạn đá để tìm nó, vì nó đã thấy cái hồ, nó biết. Nếu nó ở lại, họ sẽ lật cả Rạn San Hô Trắng lên. Nó đi lên núi với người kia. Ta xin nó ở lại. Nó không ở. – Bà ngừng rất lâu. – Nó đưa ta xem một viên ngọc nó khóc ra trên hồ lạnh. Xám đục, như mắt người già. Nó không cho ta mở. Nó bảo để dành cho cái ngày mà người ta phải tin.
Bà đưa bàn tay có màng về phía thanh kiếm đặt ngang đùi Trác. Lần này Trác không gạt ra. Mấy đầu ngón tay lạnh của bà chạm vào viên đá xám ở đầu chuôi, đặt lên đó như đặt lên đầu một đứa nhỏ đang ngủ.
– Lệ châu, – bà nói. – Nước mắt của con gái ta.
Đêm ấy, khi đặt thanh kiếm vào tay hắn, sư phụ đã gõ ngón tay lên viên đá này hai cái. Đừng bao giờ bán viên đá này, kể cả lúc đói.
Và từ phía chính điện, qua tiếng gió trong cái chuông của sư tỷ, có một giọng ấm, đầy, quen ra lệnh. Tìm hạt châu. Lật từng viên ngói.
Họ không tìm thấy nó. Vì nó không nằm dưới ngói. Nó nằm trong tay một đứa trẻ mười hai tuổi, dưới đáy một cái giếng.
– Sư phụ cháu tên Lã Thiết Chinh, – Trác nói. Giọng hắn khô như cát.
Bà Triều gật đầu chậm. Bà không ngạc nhiên. Bà đã biết từ lúc thấy thanh kiếm.
– Sư phụ cháu nói với cả viện cháu là đứa trẻ lạc. Nhặt được ở chân núi.
– Ở chân núi có suối không?
Trác nhìn bà. Hắn nhớ. Sau núi Cô Tùng có một con suối chảy ra từ hang đá, nước lạnh tới mức mùa hè cũng buốt răng. Sư phụ cấm đệ tử lên đó. Có những đêm Trác thức dậy đi tiểu, thấy ngọn đèn lồng của sư phụ đi về phía ấy, một mình, chậm, rất lâu sau mới về.
– Có.
– Nó sống ở đó, – bà Triều nói. – Xa biển thì giao nhân héo. Như cây đem trồng trong cát. Nó héo được mấy năm thì ta không biết. Giao nhân xa biển, giỏi lắm vài năm. – Bà nhìn hắn. – Nó sinh ra con ở đó. Con có vảy của nó. Con cầm nước mắt của nó. Người canh hồ nuôi con.
Bèo, nãy giờ ngồi bóc sò, ngừng tay, miệng hơi há ra.
Trác không nói được câu nào.
Hắn nhớ ông già có cái trán nóng áp vào trán hắn giữa đêm tuyết. Ông già gọi hắn là thằng nhỏ. Ông già khắc cho hắn một cái vỏ kiếm có những cái vảy vỏ cây nhỏ, cong, như vảy cá, ở gốc mỗi chùm lá tùng. Ông già nói học kiếm ở chỗ lạnh hơn ở đây. Ông già chưa từng nói với hắn một lời nào về chuyện ai là cha hắn, và hắn chưa từng hỏi, vì ở Cô Tùng có ba đứa trẻ lạc khác, đứa nào cũng không có cha.
Hắn đứng dậy, đi ra mép đầm, quỳ xuống, vục nước biển lên mặt. Nước mặn chảy vào mắt, cay. Hắn để nguyên như vậy.
Chiều, hắn mở cái tay nải, lấy gói vải dầu ra, đưa viên yêu đan cho bà Triều.
– Cháu mang nó từ sa mạc về, – hắn nói. – Ở đó có cả một kho. Cháu không trả được hết. Cháu trả được một.
Bà Triều cầm viên đan lên. Bà không nhìn nó. Bà đưa nó lên sát mũi, như bà Khói đã làm trong cái lều giữa sa mạc, và ngửi. Rất lâu.
– Thằng Lộng, – bà nói. – Con nhà bà Vẹm ở mép rạn phía bắc. Mười một mùa bão trước nó đi bắt mực, không về.
Một giao nhân đàn bà, tóc màu rong khô, đang nằm ở cuối dãy, ngẩng đầu lên.
Không ai khóc. Họ chỉ làm một việc. Bà Vẹm bơi tới, nhận viên đan từ tay bà Triều, ôm vào ngực, rồi lặn xuống tận đáy đầm. Nước trong tới mức Trác nhìn từ trên vành san hô vẫn thấy được bà đặt viên đan vào một hốc đá nhỏ đầy những vỏ ốc trắng.
Rồi những người khác lấy vỏ ốc, mỗi người một cái, gõ lên đá.
Cốc. Cốc. Cốc. Cạch.
Ba nhẹ. Một nặng.
Trác đứng sững trên vành san hô. Bèo đang ngồi bên cạnh hắn, cắn móng tay, cũng ngẩng phắt lên. Hắn đã kể cho nó nghe về nhịp chuông ấy, ở phòng trọ ba mươi đồng một đêm đầu cầu Mười Bảy.
– Anh, – con bé nói nhỏ. – Cái nhịp…
Tiếng gõ lan qua cả vòng san hô, đi ra biển. Hàng chục cái vỏ ốc, cùng một nhịp, cho tới khi mặt trời chạm nước.
Tối, Trác ngồi cạnh bà Triều ở mép đầm.
– Cái nhịp đó, – hắn nói. – Ba nhẹ một nặng.
– Nhịp gọi. – Bà nhìn ra biển. – Người đi rồi thì không nghe tiếng người sống được. Nhưng biển nhớ. Gõ đúng nhịp thì biển chuyền tiếng mình đi xa, tới chỗ người đi. Giao nhân gõ nhịp đó từ trước khi có người đất liền.
– Ở Cô Tùng, ai cũng đeo một cái chuông. Gõ đúng nhịp đó thì chuông nói lại mười hơi thở cuối cùng của chủ nó.
Bà Triều quay sang nhìn hắn. Bà nhìn rất lâu.
– Sương dạy người đó, – bà nói. – Rồi người đó dạy cả một ngọn núi.
Đêm ấy Trác không ngủ. Hắn ngồi trên chỗ cao nhất của vành san hô, nhìn ra biển đen. Trăng mười sáu lên muộn, hơi méo.
Bèo leo lên ngồi cạnh hắn. Con bé quấn một tấm vải dệt bằng rong khô, tóc xù lên như tổ chim.
– Kể đi, – nó nói.
– Kể gì?
– Kể hết. Từ cái giếng. – Con bé kéo tấm vải rong lên tới cằm. – Anh kể bà già ở sa mạc rồi, đúng không? Em biết, vì sáng hôm sau bả nhìn anh khác. Còn em thì anh không kể. Em chỉ nghe được từng khúc. Anh hỏi cái ông áo xám về cái nhẫn ba vòng. Anh hỏi anh Khiêm ông Tiêu có đeo nhẫn không. – Nó nhìn hắn. – Em không ngu đâu. Em ráp lại được. Nhưng em muốn nghe anh kể.
Trác im một lúc. Rồi hắn kể.
Hắn kể đêm mười bốn tháng Chạp. Tiếng mấy chục cái chuông cùng rung rồi từng cái một tắt. Sư phụ áo dính tuyết. Sợi dây gầu. Nước lạnh tới ngực. Cái nắp giếng hé ra, ánh đuốc, bàn tay to, ngón trỏ đeo nhẫn đồng ba vòng xoắn vào nhau. Cái gì đó rơi tõm cạnh vai. Hắn kể bảy năm hắn tin người đó không thấy mình vì dưới giếng tối quá. Rồi hắn kể đêm mười bốn tháng Ba, cái chuông trên mặt thớt. Giọng sư tỷ hổn hển gọi anh Đăng chặn cửa sau. Một giọng đều đều đọc lệnh Hình đường. Một giọng trẻ hỏi: Tiêu sư huynh, cái giếng kia. Một hơi thở dài, không có gì ngoài gió. Một giọng trầm, mệt: Ta xem rồi. Không có gì.
– Người đó thấy anh, – Trác nói. – Thấy rồi đậy nắp lại.
Bèo không nói gì một lúc lâu.
– Ông Tiêu Bá Ngôn, – con bé nói. – Cái ông anh Khiêm nói đang giữ rừng kiếm gãy.
– Chắc vậy.
– Ổng tha anh.
– Ổng dẫn người lên giết tám mươi ba người. Rồi tha một.
Sóng vỗ vào vành san hô bên dưới, lóc bóc.
– Bây giờ anh biết thêm một chuyện, – Trác nói. Giọng hắn rất thấp. – Người ta lên núi để tìm cái này. – Hắn đặt ngón tay lên viên đá xám. – Sư phụ giữ nó. Sư phụ giữ anh. Không giữ hai thứ đó thì Cô Tùng không ai chết hết. Sư tỷ không chết. Anh Đăng không chết. Thằng Mít bảy tuổi không chết.
Bèo quay phắt sang.
– Anh nói lại coi.
– Họ chết vì…
– Em nghe rồi. Em bảo anh nói lại để anh nghe coi nó ngu cỡ nào. – Con bé ngồi thẳng lên, tấm vải rong tuột khỏi vai. – Ông sư phụ anh chọn giữ cái hột đó. Ổng chọn giữ anh. Bà chị anh chọn chạy ra chặn cửa sau, anh nói với em mà, anh nghe trong chuông mà. Anh Đăng chọn đứng đó. Họ chọn. – Nó thở ra. – Anh mười hai tuổi, anh ngồi dưới giếng ướt như chuột. Anh chọn cái gì?
Trác không trả lời.
– Cha em chọn vay ông Hầu một trăm tám chục viên, – Bèo nói, giọng nhỏ lại. – Anh Khoai không chọn. Em không chọn. Em ghét cha em hai năm. Rồi em thôi ghét, vì ghét người chết mệt lắm, mà người chết cũng không biết. – Nó kéo tấm vải rong lên lại. – Họ chọn, không phải anh.
Hai người ngồi đó cho tới khi trăng lên cao.
Sáng hôm sau, Trác đi tìm bà Triều. Bà đang nằm ở chỗ nước nông, để một đám giao nhân con bơi quanh cái đuôi đầy sẹo của bà như bầy cá con bơi quanh tảng đá.
Trác ngồi xổm xuống cạnh bà.
– Cháu phải đi, – hắn nói. – Lên núi tuyết. Ngay bây giờ.
Bà Triều không ngẩng lên.
– Đi bằng gì?
– Thuyền ông Tư Hàu. Vá xong rồi.
– Thuyền ra tới Hòn Khói thì gặp thuyền săn. Con có biết thuyền săn có bao nhiêu lưới không? – Bà vẫn không nhìn hắn. – Đứng dậy.
Trác đứng dậy. Hắn đang đứng ở mép đầm, nước tới mắt cá.
Bà Triều quẫy đuôi một cái. Không mạnh. Chỉ như người ta phẩy tay đuổi ruồi. Nhưng nước dưới chân Trác dềnh lên thành một con sóng nhỏ ngang gối, và hắn, kiếm tu Trúc Cơ trung kỳ, người đã đứng vững giữa bão bạc, ngã ngửa xuống đầm. Thanh kiếm trần kéo hắn chìm như kéo một hòn đá. Hắn vùng lên, sặc nước, tóc bết vào mắt.
Bà Triều nằm yên chỗ cũ. Đám giao nhân con cười khúc khích như bọt nước vỡ.
– Con chưa biết bơi, – bà nói.
— Hết chương 19 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe