Chương 13: Hòm hàng có mùi muối
Ông Hầu Tất Đạt có cái nhà duy nhất ở Trạm Bảy Giếng lắp cửa lưu ly.
Lưu ly trong, ghép từng ô vuông nhỏ bằng bàn tay. Nắng sa mạc chiếu qua thành những vệt vàng trên nền gạch bát. Trong nhà mát lạnh. Trên xà nhà dán một lá bùa hàn, mép giấy đọng sương, nhỏ giọt xuống một cái chậu đồng đặt ngay bên dưới, tí tách, tí tách, như đồng hồ nước.
Ông Hầu ngồi sau một cái bàn gỗ hồng mộc, béo, râu tỉa gọn và bóng dầu, mặc áo lụa màu cánh trả. Ông cười khi Trác và Bèo bước vào. Ông cười suốt buổi.
– Quý khách, – ông nói, chìa tay mời ngồi. – Quý khách tới chuộc người, tôi biết rồi. Ở Trạm này chuyện gì cũng tới tai tôi trước khi tới chân giếng.
Ông mở một cái hộp gỗ, lấy ra một tờ giấy đã ố vàng, trải lên bàn, quay về phía Bèo.
– Văn tự cha cô ký. Năm Nhâm Dần, tháng Hai, vay một trăm tám mươi viên linh thạch, lãi hai phân mỗi tháng, gộp lãi vào gốc. Cha cô mất, nợ chuyển sang con trai. – Ông gõ ngón tay mập lên tờ giấy. – Tới tháng này là ba trăm lẻ bốn viên. Tôi lấy chẵn ba trăm, coi như thương cô em đi đường xa.
Bèo nhìn tờ giấy. Trác thấy con bé không đọc được nó. Nhưng nó nhìn cái chỗ có dấu điểm chỉ đỏ ở cuối tờ giấy rất lâu, như nhìn một vết máu.
– Tui có hai mươi chín viên, – nó nói.
– Vậy thì anh Khoai làm tiếp. – Ông Hầu gập tờ giấy lại, vẫn cười. – Thợ mỏ tầng ba được tính một viên rưỡi một ngày, trừ cơm nước còn chừng một viên. Ba trăm ngày. Chưa tính lãi. Tính lãi thì… – Ông nhún vai. – Cũng không lâu lắm đâu. Tám chín năm.
Trác ngồi im. Hắn nghĩ tới cái lưng gầy như hai cánh gà, tới tiếng ho khan như có cát trong phổi. Tám chín năm dưới tầng ba thì người ta không còn phổi nữa.
Ông Hầu nhìn thanh kiếm trần trên lưng hắn.
– Cậu kiếm sư đang nghĩ một nhát là xong, – ông nói, giọng vẫn ngọt như mía. – Cậu chém tôi được. Cậu phá hàng rào được. Cậu dắt anh Khoai ra khỏi mỏ được. – Ông nghiêng đầu. – Rồi cậu đi bộ về Thành Đỏ. Luật Trạm Bảy Giếng: kẻ cướp người trong mỏ thì không đoàn thuyền cát nào được chở. Đoàn nào chở thì mất quyền vào Trạm. Bà Khói biết luật đó. Bà Khói sẽ không chở cậu. Sáu ngày đường cát, không thuyền, không nước, không chim báo bão.
Trác biết ông ta nói đúng. Bà Khói đã nói với hắn y như vậy, sáng nay, trước khi hắn lên đây. "Ở sa mạc, cái gì cậu cướp được thì cát cũng cướp lại được."
– Nhưng mà, – ông Hầu đặt hai bàn tay lên bụng, – tôi là người làm ăn. Mỏ tôi đang cần một kiếm tu Trúc Cơ canh bãi hàng ban đêm. Sa tặc dạo này lộng hành. Năm viên một ngày, trừ thẳng vào nợ anh Khoai. Cậu ở đây hai tháng thì anh ấy về.
Năm viên một ngày. Hai trăm bảy mươi mốt viên. Năm mươi lăm ngày.
Trác nhìn Bèo. Con bé nhìn hắn, và lần đầu tiên từ khi hắn biết nó, nó không ra giá gì cả.
– Được, – Trác nói.
Bãi hàng của mỏ số Bảy nằm sau dãy kho, sát chân vách đá, rộng bằng ba cái sân đình. Ban ngày người ta chất ở đó những thùng gỗ đựng linh thạch đã sàng, mỗi thùng đóng đinh, niêm sáp. Ban đêm thuyền cát của ông Hầu tới chở đi. Trác ngồi trên một cái chòi canh dựng bằng gỗ, cao ngang mái kho, nhìn xuống bãi, thanh kiếm đặt ngang đùi.
Đêm đầu tiên không có gì. Đêm thứ hai, thứ ba cũng không. Sa tặc không tới. Có lẽ chúng đã thấy cái chòi canh có người ngồi với một thanh kiếm không vỏ.
Đêm thứ tư, Trác bắt đầu để ý những cái thùng.
Thùng linh thạch đi Thái Nhạc niêm sáp đỏ, trên sáp đóng dấu hình một ngọn núi có tuyết trên đỉnh. Đêm nào cũng có ba bốn chục thùng như vậy, chất lên hai chiếc thuyền cát lớn, buồm vải đen, không có người dẫn đoàn nào của Trạm đi theo. Người áp tải là một gã đàn ông mặc áo nâu, ít nói, đứng một chỗ cả đêm đếm thùng bằng mắt.
Trong ba bốn chục thùng ấy, đêm nào cũng có hai hoặc ba thùng khác.
Chúng giống hệt những thùng kia, cùng gỗ, cùng đinh, cùng sáp đỏ. Nhưng bên cạnh dấu núi tuyết trên sáp còn một dấu nhỏ hơn, nhỏ bằng hạt đỗ, phải đứng sát mới thấy: một con hạc đứng hai chân. Người ta khiêng những thùng ấy bằng bốn người thay vì hai. Và khi chúng đi ngang qua dưới chòi canh, gió đêm thổi lên mũi Trác một thứ mùi không thể nào có ở giữa sa mạc.
Mùi muối. Không phải muối hột trong bao. Mùi muối của biển. Mùi rong, mùi tanh của nước mặn phơi nắng. Ở cái Trạm này, nước giếng còn chát vị đá, bánh nướng còn sạn cát, mà ba cái thùng gỗ ấy lại bốc lên mùi của một bãi biển.
Đêm thứ năm, Bèo trèo lên chòi canh ngồi với hắn, mang theo hai cái bánh. Một chiếc thùng có dấu hạc được khiêng ngang qua. Con bé hít mũi một cái.
– Mắm, – nó nói. – Thùng đó đựng mắm.
– Không phải mắm.
– Thì cá. Hay ốc. Cái gì của biển. – Nó cắn bánh. – Linh thạch mà có mùi biển, ông Hầu bán linh thạch lậu à?
Đêm thứ sáu, Trác đi xuống bãi lúc thuyền chưa tới, đi ngang một thùng có dấu hạc, và đặt bàn tay lên nắp. Gỗ lạnh. Không phải cái lạnh của đêm sa mạc. Lạnh như đặt tay lên một tảng đá vừa vớt lên từ đáy giếng sâu.
Gã áo nâu đứng cách đó mười bước. Gã quay lại nhìn hắn.
– Hàng của Thái Nhạc, – gã nói. – Ai đụng thì chặt tay.
Trác nhấc tay khỏi nắp thùng. Hắn đi về chòi canh. Gã áo nâu nhìn theo hắn cho tới khi hắn leo lên tới đỉnh.
Hắn không đụng vào những cái thùng ấy nữa. Nhưng đêm nào hắn cũng đếm chúng.
Hắn kể chuyện ấy với bà Khói vào một buổi sáng, khi bà đang ngồi sửa buồm ở bãi thuyền. Bà nghe, kim khâu buồm vẫn đi đều tay.
– Mỏ của Hầu bán linh thạch cho Thái Nhạc mười năm nay rồi, – bà nói. – Bán hết, không bán cho ai khác. Một ngọn núi tuyết ăn linh thạch gì mà ăn nhiều dữ vậy, cả Trạm này ai cũng thắc mắc, không ai hỏi. – Bà cắn đứt sợi chỉ. – Thùng có mùi biển thì tôi không biết. Ở Trạm, người hay hỏi thùng của người khác thì hay chết sớm. Cậu đếm thì cứ đếm. Đừng mở.
Ban ngày Trác ngủ vài canh giờ trong một góc kho, rồi đi xuống chân dốc tìm Khoai trong giờ nghỉ trưa.
Khoai là một người hiền tới mức chậm. Gã nói chậm, cười chậm, ăn chậm. Gã gọi em gái là "con Bèo" bằng cái giọng của người anh gọi đứa em đã đi lạc ba ngày mới tìm thấy. Gã ho nhiều. Bèo ngồi nhìn anh ho, mặt lầm lì, rồi đi đâu đó, lúc về mang theo một nắm lá gì đó mặc cả được của ông thầy thuốc đi cùng đoàn, bắt anh nhai.
– Thằng Kế nó gánh phần cho tao, – một hôm Khoai nói, không biết vì sao lại nói. – Mấy hôm tao ho không cuốc nổi, nó cuốc phần nó xong cuốc luôn phần tao. Có một tay mà nó cuốc bằng hai đứa.
Trác đặt bát cháo xuống.
– Nó có nói gì không?
– Ai? Thằng Kế? – Khoai cười, chậm. – Nó không nói gì hết. Nó có nói bao giờ đâu.
Kế làm ở tầng ba. Tầng sâu nhất, nóng nhất, bụi nhất. Trác thấy hắn mỗi ngày ở giờ đổi ca, đi ra khỏi miệng hầm, cuốc trên vai trái. Kế không nhìn Trác thêm lần nào nữa sau buổi trưa đầu tiên. Hắn đi qua như Trác là một cái cột.
Rồi một buổi tối, ngày thứ mười, khi Trác đang ngồi trên chòi canh nhìn bãi hàng trống, có người leo lên.
Kế đứng ở bậc thang trên cùng. Hắn không leo hẳn lên chòi. Hắn chỉ đứng đó, nửa người trên mặt sàn, nửa người dưới bóng tối.
Hắn giơ bàn tay phải lên.
Bàn tay co quắp, năm ngón tay cong vào lòng như năm cái móc, da ở đó bóng lên, căng, có một vết sẹo trắng chạy ngang cổ tay. Hắn giơ nó lên ngay trước mặt Trác, cách chừng một gang. Giữ ở đó.
Trác nhìn bàn tay ấy.
Hắn mở miệng. Không có chữ nào ra. Hắn đã nghĩ suốt mười ngày xem sẽ nói gì nếu gặp Kế, và bây giờ không một câu nào trong những câu ấy còn đứng được.
Kế giữ bàn tay ở đó lâu. Lâu tới mức Trác nghe được tiếng gió lùa qua khe ván chòi canh, tiếng con thằn lằn cát kêu trong chuồng xa xa. Rồi Kế hạ tay xuống. Hắn leo xuống thang, đi vào bóng tối, không nói một lời.
Đêm ấy Trác lấy con dao cùn của ông Bảy ra, và một miếng thịt dê khô, và ngồi lóc miếng thịt từng thớ một trên chòi canh cho tới sáng. Lúc nào mày quên thì lóc cái gì đó. Hắn không quên. Hắn chỉ không biết làm gì khác với hai bàn tay mình.
Những ngày sau hắn lóc thịt dê khô mỗi đêm. Rồi hắn thử một việc khác. Hắn cầm thanh kiếm thật lỏng, lỏng như cầm con chim sẻ, để cái khí của lời thề chảy ra thân kiếm thật mảnh. Rồi hắn dùng sợi khí mảnh ấy lần theo thớ gỗ của tấm ván chòi canh, tìm khe giữa các vân gỗ, như lần theo màng thịt. Hắn không cắt gỗ. Hắn chỉ tìm. Có đêm hắn tìm ra được cả một đường khe chạy suốt tấm ván, từ đầu này sang đầu kia, mảnh như sợi tóc.
Hắn không biết vì sao mình làm việc đó. Hắn chỉ thấy khi làm việc đó thì đầu óc yên lại.
Sáng ngày mười tám tháng Tư, Trác vừa leo xuống khỏi chòi canh thì mặt đất dưới chân hắn rung lên.
Một cái rung trầm, sâu, như có con gì rất lớn trở mình dưới lòng núi. Mái kho rung, bụi trên xà rơi xuống. Rồi từ miệng hầm số Bảy trên vách đá phun ra một cột bụi bạc, cao vọt lên như khói lò. Rồi một tiếng ầm đến muộn, nặng nề, như một cánh cửa đá khổng lồ đóng sập lại ở đâu đó rất sâu.
Mõ báo động vang lên khắp Trạm. Gõ dồn, gõ dập, gõ không ngừng.
Người ta chạy. Trác cũng chạy, ngược dốc, về phía miệng hầm. Bụi bạc phủ mù mặt hắn. Ở cổng mỏ, mấy gã gác cầm roi đứng đờ ra. Những thợ mỏ ca sáng đang chui ra khỏi miệng hầm, ho sặc sụa, mặt mũi trắng toát như ma.
– Tầng ba! – ai đó gào lên. – Tầng ba sập rồi!
Trác túm lấy một người thợ mỏ vừa ra.
– Khoai! Thằng Khoai đâu?
Người thợ mỏ nhìn hắn bằng đôi mắt đỏ ngầu bụi, lắc đầu.
– Tầng ba. Nó với thằng Kế. Ca sáng tầng ba còn mười mấy đứa dưới đó.
— Hết chương 13 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe