Chương 36: Vỏ kiếm gỗ tùng
Chùm lá tùng thứ bốn mươi mốt bị gãy ngọn một chiếc, và Trác phải đẽo lại cả chùm.
Hắn ngồi trên thành giếng rửa kiếm sau võ trường Cô Tùng, cái vỏ kiếm đặt ngang đùi, con dao mũi nhọn mỏng như lá lúa trong tay phải. Hôm nay là rằm tháng Giêng năm Ất Tỵ. Hắn tròn hai mươi tuổi. Cái vỏ kiếm này lẽ ra là quà sinh nhật mười ba. Tuyết trên núi đã bắt đầu tan. Từ mái lều tranh hắn với ông Dụ mới dựng tạm trên nền nhà bếp cũ, nước nhỏ xuống tí tách thành một hàng giọt sáng. Rừng tùng quanh võ trường còn trắng ở ngọn, nhưng dưới gốc đã lộ ra từng mảng đất đen, ẩm, có mùi nhựa thông và lá mục.
Võ trường không còn gì. Nền đá lát bị lửa nung nứt, cỏ mọc qua các khe. Chính điện chỉ còn ba bức tường cháy đen và một đống ngói vụn đã phủ rêu. Mấy dãy nhà đệ tử thì chỉ còn nền. Bảy năm, rồi thêm một năm, người ta để Cô Tùng nằm như thế.
Cái giếng thì vẫn còn. Nắp gỗ lim nặng trịch, cháy sém một góc, vẫn đậy trên miệng giếng như đêm ấy.
Sáng nay, lúc mới lên, hắn đã kéo cái nắp ra. Gỗ rít trên đá, đúng cái tiếng ấy. Hắn cúi xuống. Dưới đáy, nước giếng trong, phẳng, phản chiếu một khoảng trời xanh nhạt và một khuôn mặt người đang nhìn xuống. Không có ai nhìn lên. Hắn nhìn một lúc, rồi để nắp mở như thế, cho giếng thấy trời.
Bèo ngồi trên đống củi ở cửa lều, đang đếm tiền.
– Vải bố mười một sải, – con bé nói, không ngẩng lên. – Rong không tính. Ống tre ba mươi tám đồng. Bánh nướng ở Hạ Nhạc năm đồng. Tiền vá thuyền ông Tư Hàu em trả rồi, ổng trả lại hai viên, trừ ra. Cháo ông Bảy không tính, ổng cho. – Nó ngừng lại, gõ ngón tay lên đầu gối. – Hai ngón tay bị cắn, năm viên.
– Anh nhớ.
– Anh chưa trả.
– Ừ.
Con bé nhìn hắn một cái, nheo mắt, rồi lại cúi xuống đếm.
Họ về tới chân núi Cô Tùng mùng mười tháng Giêng. Ông Dụ đã ngoài tám mươi, lưng còng gập, nhưng vẫn ra tận gốc đa đầu đường mòn đứng chờ, như ông đã chờ từ lúc nhận được lời nhắn gửi theo người đi buôn muối. Bà Dụ thì không chờ. Bà đứng trong bếp, nấu một nồi xôi gấc đỏ au, và khi Trác bước qua ngưỡng cửa, bà chỉ nói: "Ăn đi rồi nói." Rồi bà quay vào, lau mắt bằng vạt áo, giả như khói bếp cay.
Ông Dụ không hỏi gì về bảy năm. Ông chỉ hỏi một câu, lúc tối, khi hai người ngồi trước bếp lửa.
– Hồi mùa xuân năm Mậu Tuất, – ông nói, – có một ông già áo xám lên đây hỏi tên tụi nhỏ trong viện. Tao kể. Tao không biết ổng là ai. Tao làm vậy có sai không?
Trác nhìn ngọn lửa một lúc lâu.
– Không sai, ông. Ông ấy khắc tên họ lên ván. Mỗi người một tấm. Ông ấy lau kiếm của họ mỗi ngày.
Ông Dụ gật đầu, chậm. Ông không hỏi thêm.
Trác lấy con dao mũi nhọn đẽo lại chùm lá tùng bị gãy. Con dao này ông Bảy để lại trong lều ở Kiếm Lâm hôm xuống núi, nằm trên chiếu cạnh gối hắn, không một lời dặn. Lưỡi mỏng, sắc, ông vừa mài. Trác đã đem nó về tới đây. Con dao cùn có mũi mẻ thì hắn cất trong tay nải. Để đó cho nhớ.
Hắn đã ghé lò mổ ở bến Cá Chạch vào tháng Chạp, như đã hứa.
Lò vẫn thế. Mùi máu cũ, mùi muối, mùi mỡ bò. Mấy cái móc sắt lớn vẫn treo trên xà. Thằng nhỏ học việc mười bốn tuổi giờ lóc thịt nhanh hơn trước. Ông Bảy đứng dưới mái hiên với con dao phay, chỉ trỏ, không ngẩng lên khi thấy Trác đi vào sân, chỉ nói: "Tới đúng bữa." Thận thì đang ở sau bếp, ngồi thái cam thảo để ngâm rượu Tết. Hắn ngẩng lên, nhìn Trác, gật đầu một cái.
Họ ăn Tết ở đó. Bèo ngủ trên đống bao muối như hồi tháng Ba năm trước, cái chăn dạ mùi thuốc lào trùm kín đầu. Đêm giao thừa, ông Bảy rót rượu ngâm rễ cây màu nâu đỏ như nước vối ra ba cái chén. Ông uống cạn chén mình. Thận uống cạn chén mình. Trác uống, ho. Không ai nói gì về chuyện cũ. Ông Bảy chỉ nói thịt trâu năm nay đắt, và đội trưởng Lành đã gỡ tên Trác khỏi sổ tình nghi, gỡ hai lần vì lần đầu thằng lính già ghi nhầm sang tên người khác.
Sáng mùng một, lúc chia tay, ông Bảy đứng ở cửa lò. Ông nhìn cái vỏ kiếm buộc trên lưng Trác, thanh kiếm đã nằm yên trong đó.
– Khắc cho xong, – ông nói. – Khắc dở thì tao thấy khó chịu.
Bây giờ Trác đang khắc cho xong.
Nửa trên của cành tùng là của sư phụ. Lá kim ra từng chiếc, mỗi chiếc có một đường gân giữa mảnh như sợi tóc, và ở gốc mỗi chùm lá có một cái vảy vỏ cây nhỏ, cong, như vảy cá. Nửa dưới chỉ là những đường phác nông như vết móng tay. Sư phụ đã khắc nó những đêm mùa đông ngồi ở bậc cửa phòng đệ tử, quay lưng vào phòng, vừa khắc vừa ngâm nga cho lũ nhỏ ngủ. Ông khắc tới chùm lá thứ ba mươi bảy thì hết những đêm mùa đông.
Trác bắt đầu từ chùm thứ ba mươi tám. Hắn đã khắc từ hôm mười một. Hắn khắc chậm. Lưỡi dao đi theo thớ gỗ tùng, tìm khe giữa những vân gỗ, không ấn, chỉ đẩy nhẹ, như đẩy mũi dao cùn vào giữa hai lớp màng thịt. Gỗ tùng mềm hơn thịt trâu sừng đá đông cứng, nhưng khó hơn, vì nó không tha thứ. Một nhát lệch là một vết sẹo không bao giờ lấp được.
Hắn đã lệch hai lần. Hắn không đẽo bỏ chúng. Hắn khắc tiếp quanh chúng, như cành tùng mọc vòng qua một vết thương trên thân cây.
Ở mỗi chùm lá, hắn khắc thêm một cái vảy vỏ cây nhỏ, cong, như vảy cá.
Trên cổ hắn, sau tai trái, dải vảy bạc đã khô lại, xám đi, gợn lên như vảy cá phơi. Từ ngày lên núi, hắn không quấn khăn che nữa. Ông bà Dụ nhìn thấy nó lần đầu thì im lặng. Rồi bà Dụ nói: "Hồi kéo mày lên từ dưới giếng, tao đã thấy cái đó. Tao bảo là tàn lửa vì tao không biết bảo là gì." Rồi bà xới thêm xôi vào bát hắn.
Ở lò mổ, ông Bảy còn đưa cho hắn một lá thư của Mẫn Khiêm, gửi tới từ tháng Mười, chữ viết nghiêng, nét đẹp, như người ta viết chữ đẹp. Trác đọc to cho Bèo nghe, vì con bé bảo chữ nghiêng quá nó đọc không ra. Thư dài. Ba mươi tám người trong Hàn Trì đã được đưa về biển, đi bằng xà lan có đặt băng xuôi sông Hạc, qua chín mươi chín cây cầu, qua bến Cá Chạch, ra cửa biển, rồi vòng lên Vịnh Muối. Cả thành Hạc Kiều đứng trên cầu xem. Ở Hòn Khói, một con kình xám to như cái đảo nhô lên khỏi mặt nước, nhả ra một thanh kiếm trắng có vân như mạch băng, rồi lặn mất.
Kình Sấm nhắn lại một câu, qua ông Tư Hàu dịch. Đêm rằm tháng Tám, biển nghe thấy tiếng gõ từ dưới sông lên. Ba nhẹ, một nặng. Biển chờ.
Thư còn nói: kho đá cuối bến Vịnh Muối đã bị phá. Thuyền săn cờ hạc bị đốt ba chiếc cuối cùng ngay trên bến. Bà bán nước dừa đứng xem, vỗ tay. Ninh Khải xin ra khỏi Thái Nhạc, ở lại Vịnh Muối, học làm muối.
Cuối thư có một dòng, chữ viết khác hẳn những dòng trên, run hơn, như người viết đã ngồi rất lâu trước khi đặt bút.
"Ta vào ngục băng thăm cha ta một lần. Ông ngồi đó, tính. Ông bảo ta ông vẫn chưa tính ra con số nào khác. Ta bảo ông cứ tính. Ta có ba năm."
Bèo nghe xong, im một lúc lâu. Rồi nó nói: "Ổng viết hay quá. Người viết hay mà tốt cỡ đó thì phải coi chừng." Rồi nó bắt Trác đọc lại đoạn con kình nhả kiếm.
Gần trưa, Trác khắc xong chùm lá tùng cuối cùng.
Cành tùng bây giờ chạy suốt từ miệng vỏ xuống tới gần đầu dưới. Nửa trên mềm mại, lá kim ra từng chiếc, nét đã ngả màu mật ong vì năm tháng. Nửa dưới sắc hơn, mới hơn, màu gỗ còn tươi, có hai chỗ vân lệch mà người khắc đã không đẽo bỏ. Hai nửa không giống nhau. Nhưng nhìn kỹ thì là một cành.
Đầu dưới vỏ kiếm vẫn cháy đen một khúc, sờ vào còn để lại vệt than trên ngón tay.
– Cái chỗ cháy, – Bèo nói. Con bé đã thôi đếm tiền, ngồi xuống thành giếng cạnh hắn từ lúc nào, chống cằm nhìn. – Anh không đẽo đi à?
Trác nhìn khúc gỗ cháy đen.
– Không.
– Sao không?
Hắn không trả lời. Bèo nhìn hắn một lúc, rồi gật đầu, như người vừa ngã giá xong một món hàng mà không cần nói ra con số.
Trác dựng cái vỏ kiếm lên thành giếng. Thanh Hàn Tùng nằm yên bên trong, chuôi kiếm ló ra khỏi miệng vỏ, viên đá xám đục ở đầu chuôi như mắt người già. Dưới chuôi, sợi tua đỏ bạc màu đã được buộc lại, và cuối tua bây giờ có hai cái chuông đồng nhỏ bằng đầu ngón tay cái. Một cái nứt một đường từ miệng lên vai. Một cái nguyên vẹn, trên vai có khắc hai chữ nhỏ, nét chữ tròn, hơi nghiêng.
Cả hai đều câm.
Gió từ rừng tùng thổi qua võ trường, thổi qua cái giếng. Hai cái chuông đụng nhau. Cạch. Một tiếng gỗ khẽ, đục.
Bèo nhặt một nhánh tùng khô dưới chân, đưa lên mũi ngửi.
– Nhà anh thơm, – con bé nói.
Trác nhìn quanh. Võ trường nứt nẻ, cỏ mọc qua khe. Chính điện ba bức tường cháy đen. Dãy nhà đệ tử chỉ còn nền. Mái lều tranh mới dựng nhỏ giọt nước tuyết tan.
– Ừ, – hắn nói.
Bèo dựa lưng vào thành giếng, kéo tấm chăn dạ mùi thuốc lào lên tới cằm. Nắng tháng Giêng đã ấm. Con bé ngáp một cái thật dài.
– Năm viên, – nó lẩm bẩm. – Lãi hai phân mỗi tháng. Gộp lãi vào gốc.
– Ừ.
Một lát sau, nó ngủ.
Trác lấy cái vỏ kiếm xuống, đặt lại ngang đùi. Còn một chỗ ở gần miệng vỏ, chỗ sư phụ khắc chùm lá đầu tiên, có một chiếc lá kim bị mẻ một đầu nhỏ như hạt gạo, có lẽ từ đêm ấy. Hắn đưa mũi dao vào, rất nhẹ, khắc lại cái đầu lá ấy cho liền.
Hắn khắc chậm. Không biết từ lúc nào, hắn đã bắt đầu ngâm nga mấy nốt nhạc không lời, đi đi lại lại, lên xuống, như người ta vỗ nhẹ vào lưng con nhỏ cho ngủ.
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe