Chương 5: Bà Năm không khóc
Quả cân đồng nằm gọn trong ô lót nhung xanh, vừa khít như chưa từng rời đi.
Thượng úy Hiển đeo găng tay, đặt nó vào rồi nhấc ra, đặt vào rồi nhấc ra, ba lần. Lần nào cái vòng sẫm màu trên nhung cũng trùng đúng với đáy quả cân. Anh ta chụp ảnh từ trên xuống, từ bên hông, rồi bỏ quả cân lại vào túi nhựa niêm phong, ghi số.
– Bộ này ba chị mua ở đâu?
– Ông mua lại của một ông thợ cân ở Sài Gòn năm 1990, năm tôi sinh. Cả tỉnh chắc chẳng có bộ thứ hai giống y vậy.
– Bộ đồ nghề này hồi đó công an giao lại cho gia đình có biên bản không?
– Có. Má tôi còn giữ.
– Lúc nào tiện chị đưa tôi coi.
Tám giờ sáng thứ Ba. Phòng làm việc của công an phường vẫn cái quạt trần quay số một. Hiển đặt cái hộp gỗ lại trước mặt Sa, nắp mở, ô góc phải trống trơn. Rồi anh ta nói, như nói thêm một dòng vào biên bản:
– Tàu Thuận Ni ra khơi có khai báo ở trạm biên phòng, đúng thủ tục. Chúng tôi đã liên lạc được với anh Khương qua máy bộ đàm trên tàu. Anh ta nói đánh hết chuyến thì về, chừng ba bốn ngày.
– Anh tin không?
Hiển nhìn cô, lần đầu tiên có cái gì đó gần như một nụ cười ở khoé miệng, rồi tắt ngay.
– Tôi không làm nghề tin, chị Sa.
Trưa hôm đó, chú Nghĩa gọi điện nhờ cô qua lò đá chở thêm hai chục cái ghế nhựa cho đám. Bên nhà ông Năm thiếu ghế, người tới viếng đông hơn người ta tưởng.
Lò nước đá Đức Nghĩa nằm ở cuối bến, sát bờ kè, một dãy nhà xưởng mái tôn dài chừng ba chục mét, sơn trắng đã ngả vàng. Đi từ vựa Năm Bền tới đây theo đường bãi chừng sáu trăm mét, chạy xe thì hai phút. Trước xưởng là cái sân xi măng rộng, nơi xe tải đá vô ra, mặt sân lúc nào cũng ướt nhẹp. Bên trong mát lạnh, ồn ào. Máy nén kêu ầm ầm như có ai nhốt một con trâu trong đó. Bể nước muối dài chạy dọc xưởng, mặt nước đục, phủ kín những tấm ván gỗ đậy. Dưới mỗi tấm ván là một hàng khuôn thép cắm sâu vào nước muối lạnh, nước trong khuôn đông dần từ ngoài vào trong, mất chừng hai mươi mấy tiếng mới thành một cây đá.
Anh Dũng Râu, thợ cả của lò, đang đứng trên dàn cẩu, móc hàng khuôn lên. Anh bốn mươi hai tuổi, râu quai nón rậm như bàn chải, cởi trần, đeo cái tạp dề cao su đen. Hàng khuôn được nhấc khỏi bể, nhúng qua bể nước ấm cho đá rời khuôn, rồi lật ngược. Những cây đá trắng đục trượt ra, đập xuống máng gỗ nghe rầm rầm, khói lạnh bốc lên.
– Cô Sa! – Anh Dũng gọi từ trên dàn. – Ghế ở kho sau, ông chủ biểu rồi. Thằng Khoa khiêng phụ cô.
Thằng Khoa, hai mươi hai tuổi, đen nhẻm, dẫn cô vòng ra sau. Đi ngang góc xưởng, Sa thấy hai chục cái khuôn mới vẫn còn chất đống ở đó, bằng thép không gỉ, sáng bóng hơn hẳn đám khuôn cũ han gỉ dưới bể. Khuôn mới dài hơn một chút, hai bên hông mỗi cái có hai đường gân dập nổi chạy dọc, cho cứng thành khuôn. Mấy cái khuôn được úp ngược, xếp chồng lên nhau ngay ngắn, chung quanh còn đọng nước.
– Khuôn mới chưa chạy hả em?
Khoa ngoái lại nhìn đống khuôn.
– Dạ… – Nó gãi đầu. – Bữa…
– Khoa! – Tiếng chú Nghĩa vang lên từ cửa văn phòng. – Ra coi lại cái van bể muối số ba giùm tao, nó rỉ nữa rồi.
Thằng Khoa chạy đi. Chú Nghĩa đi tới, tay lau vào cái khăn vắt vai.
– Khuôn mới để tuần sau. Dầu máy chưa thay, chú sợ chạy nặng nó hụt lạnh. – Chú hất đầu về phía kho. – Ghế trong đó. Lấy hai chục cái, lấy thêm cái bàn xếp nữa. Vô văn phòng chú uống miếng nước đã.
Văn phòng lò đá là một căn phòng nhỏ có cửa kính, máy lạnh chạy rè rè, bàn gỗ đầy giấy tờ, phiếu giao đá, sổ sách. Trên tường treo một tấm lịch của hội nghề cá, một cái đồng hồ treo tường, và mấy tấm ảnh lồng khung. Ảnh cưới của chú với cô Hạnh, vợ chú, mất năm 2016. Ảnh thằng Tâm, con trai chú, đội mũ cử nhân, bây giờ làm kỹ sư trong Sài Gòn. Và một tấm ảnh chụp chiếc xe tải nhỏ màu xanh dương đậu trước lò đá, chú Nghĩa hồi còn tóc đen đứng cạnh, một tay chống lên đầu xe, cười toe toét.
Sa nhớ chiếc xe đó. Năm cô mười tám tuổi, chú Nghĩa từng chở cô với cha lên tỉnh mua linh kiện bằng chính chiếc xe này. Cabin nóng như lò, quạt không chạy, ba người ngồi chen nhau. Cha cô ngồi giữa, hát cải lương suốt bốn chục cây số.
– Chiếc này giờ đâu chú?
Chú Nghĩa nhìn theo tay cô chỉ.
– Chiếc xanh hả? Chạy lụn rồi. Cuối năm 2019 chú bán sắt vụn, đầu năm sau mua chiếc trắng. – Chú rót nước từ bình lọc ra cái ly nhựa, đưa cô. – Xe đó đi với chú mười một năm. Chở đá, chở cá, chở cả đám cưới thằng Tâm. Bán đi chú cũng tiếc.
Chú ngồi xuống ghế, nhìn cô uống nước.
– Công an hỏi con nhiều không?
– Nhiều chú. – Sa đặt ly xuống. – Họ nghi con.
– Nghi gì? – Chú cau mày. – Con tới sửa cân thì con thấy. Chuyện có vậy thôi.
– Thì đồ của ba nằm trong túi ổng.
Chú Nghĩa im lặng. Ngoài xưởng, một hàng đá nữa trượt khỏi khuôn, rầm rầm như sấm.
– Con đừng lo, – chú nói. – Công an họ làm nghề, họ biết phân biệt. Có gì chú làm chứng cho con. Tối thứ Bảy chú chở đá qua, ổng còn sống nhăn, chửi chú như chửi con. – Chú cười, mà không vui. – Ổng chửi người ta cả đời, ai ngờ…
Sa chở ghế qua nhà ông Năm lúc một giờ chiều. Hai chục cái ghế nhựa đỏ chồng lên nhau buộc sau yên xe, cao hơn đầu cô, cái bàn xếp kẹp ngang. Chạy được nửa đường, điện thoại trong túi áo rung. Cô tấp vào bóng cây bàng đầu đường, mở ra coi.
Tin nhắn của chú Nghĩa: "Con chở ghế qua trước. Chú qua sau. Nhớ ăn cơm."
Sa đọc, rồi bật cười, lần đầu tiên từ sáng Chủ nhật. Chú Nghĩa là ông già duy nhất ở bến Cửa Nậy nhắn tin có dấu chấm. Hồi trẻ chú làm thư ký cho hợp tác xã nghề cá mười năm, ghi sổ sách, đánh máy công văn, quen tay tới mức nhắn một chữ "ừ" cũng phải chấm câu. Cha cô hay chọc chú là "ông thư ký nhắn tin như viết đơn". Cô cất điện thoại, nổ máy chạy tiếp.
Nhà ông Năm buổi chiều đông hơn buổi sáng. Rạp dựng kín sân, hai hàng bàn dài phủ khăn trắng, trên mỗi bàn có dĩa hạt dưa, dĩa bánh, bình trà. Người trong bến tới từng tốp, đàn ông mặc áo sơ mi, đàn bà mặc áo bà ba, bước vào thắp nhang, cúi đầu, rồi ra ngồi ở bàn uống trà, nói chuyện nhỏ. Không ai khóc. Không ai nói ông Năm là người tốt. Người ta chỉ nói chuyện cá, chuyện giá, chuyện ghe nào về ghe nào chưa, và thỉnh thoảng có ai đó hạ giọng, liếc vào trong nhà.
Sa khiêng ghế xuống, xếp vào hàng. Lượm chạy tới phụ. Xong việc, cô định về, thì một bà cô họ hàng của ông Năm tới níu tay áo cô.
– Cô Sa phải hông? Bà Năm kêu cô vô.
Bà Năm ngồi trong buồng nhỏ sau bàn thờ, nơi người ta để đồ cúng và mấy thùng nước suối. Đinh Thị Huê năm mươi lăm tuổi, người dong dỏng, tóc bới gọn sau gáy, mặc bộ đồ tang trắng, khăn tang quấn trên tóc, cổ tay đeo một chiếc vòng cẩm thạch xanh. Bà ngồi trên cái ghế đẩu, lưng thẳng như cây sào, hai bàn tay đặt chồng lên nhau trên đùi. Bà Năm giữ tiền của vựa Năm Bền ba chục năm. Cả bến sợ ông Năm chửi, nhưng ai muốn khất nợ thì phải qua cửa bà, mà qua cửa bà thì khó hơn qua cửa ông nhiều.
– Cô ngồi đi.
Sa ngồi xuống thùng nước suối. Bà Năm nhìn cô một lúc lâu, như cân cô bằng mắt.
– Tui muốn nhờ cô một việc. Qua thất đầu của ổng, cô kiểm giùm tui hết mấy cái cân trong vựa. Cân sàn, cân bàn, cân đồng hồ, cân nào cũng kiểm. Kiểm cho kỹ.
– Dạ được. Bà muốn kiểm để làm chi?
– Để tui tính chuyện bán vựa. – Bà nói, không chớp mắt. – Tui không làm nổi một mình. Thằng Toại nó cũng chẳng muốn làm. Bán thì phải cho sạch.
Sa gật đầu. Cô định đứng dậy thì bà Năm nói tiếp, giọng không đổi, mắt nhìn thẳng vào cô:
– Tối thứ Bảy ổng gọi cô tới. Đâu phải vì cái cân, phải hông?
Sa ngồi im. Ngoài kia, tiếng ai đó gõ mõ tụng kinh đều đều, tiếng người nói chuyện rì rầm như nước rút.
– Ổng nói ổng có chuyện về ba con. Ổng nói ổng giữ lâu rồi.
Bà Năm không phản ứng. Chỉ có hai bàn tay trên đùi bà, bàn tay trên siết lấy bàn tay dưới, chặt tới mức chiếc vòng cẩm thạch xoay đi một nấc.
– Ổng có nói là chuyện gì không?
– Không kịp, bà.
Bà Năm gật đầu chậm. Rồi bà mở miệng, như sắp nói điều gì đó.
Đúng lúc đó, ngoài sân có tiếng ly vỡ, tiếng ghế đổ, tiếng đàn bà la lên. Rồi một giọng đàn ông, khàn đặc, gào lên át cả tiếng mõ:
– Chú dậy đi! Chú dậy mà cân cho người ta coi đi!
Sa đứng bật dậy, chạy ra. Toại đứng giữa sân, áo sơ mi trắng lòi ra ngoài quần, mặt đỏ gay, một tay cầm chai rượu đế, tay kia chỉ thẳng vào bàn thờ. Mấy cái ghế nhựa đỏ cô vừa xếp đổ chỏng chơ dưới chân nó. Người trong rạp đứng dạt ra, không ai dám tới gần.
– Cả bến này tới đây làm chi? – Nó gào. – Tới coi chú tui chết hả? Ai cũng mừng! Ai cũng mừng hết! Chú dậy mà coi nè!
Chú Nghĩa từ ngoài cổng lao vào. Chú ôm ngang người Toại, giật chai rượu khỏi tay nó, ném xuống sân. Toại vùng vẫy, rồi xụi xuống, khuỵu gối trên nền gạch đỏ, khóc rống lên như đứa con nít. Chú Nghĩa ghì nó vào ngực, vỗ vỗ lưng nó, mắt nhìn quanh đám đông, cái nhìn bảo ai nấy về chỗ ngồi đi.
Sa quay lại nhìn vào trong nhà.
Bà Năm đã đứng ở cửa buồng, tay vịn khung cửa. Bà không nhìn Toại. Bà nhìn cái di ảnh trên bàn thờ, mắt vẫn khô như hôm qua, và môi bà mấp máy một câu gì đó mà không ai nghe được.
— Hết chương 5 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe