Chương 23: Lời má kể
– Ổng ngồi ngay cái ghế mày đang ngồi đó, – má cô nói. – Không uống trà. Tui rót, ổng không uống.
Chín giờ tối thứ Ba. Ngọn đèn dầu trên bàn thờ cha vặn thấp, ngọn đèn huỳnh quang trên trần tắt. Hai mẹ con ngồi ở cái bàn gỗ nhà trước, như cái đêm má cô kể chuyện món nợ sáu chục triệu. Ngoài hẻm có tiếng con nít nhà Út Mây khóc đòi ăn, rồi tiếng Út Mây dỗ, rồi im.
Sa đã về nhà từ trưa. Cô không ra sạp. Cô nằm trên giường nhìn lên mái ngói suốt buổi chiều, nghe tiếng má làm don dưới bếp, tiếng dao bóc vỏ don lách cách, tiếng nước xối. Cô không nghĩ được gì. Hoặc cô nghĩ được, mà cô không cho mình nghĩ. Mỗi lần cái khung ảnh trên tường lò đá hiện lên trong đầu, cô lại xoay mặt vào vách, đếm những lằn gỗ trên vách như đếm quả cân.
Rồi lúc tám giờ, ăn cơm xong, cô ngồi xuống đối diện má, và nói ra câu đầu tiên mà cô đã giữ từ sáng:
– Má. Người ta tông ba. Từ phía sau. Bằng một chiếc xe tải màu xanh dương. Không phải xe ông Năm.
Má cô ngồi im rất lâu. Tay bà đặt trên mặt bàn, mấy đầu ngón tay sần sùi gõ nhẹ xuống gỗ, không thành nhịp.
– Con không hỏi má để bắt lỗi má, – Sa nói. – Con hỏi vì người làm chuyện đó còn sống. Má nói con nghe hết đêm thứ Bảy. Hết.
Và má cô kể.
Bảy giờ rưỡi tối thứ Bảy mười một tháng Tư, lúc Sa đang chỉnh cái cân bàn ở nhà hàng hải sản đầu cầu, ông Năm Bền tới nhà. Ông không gọi điện trước. Ông dựng xe ở đầu hẻm, đi bộ vào, gõ cửa. Má cô đang ngồi coi ti vi, thấy ông thì đứng bật dậy, tưởng ông tới đòi gì đó.
– Ổng ngồi xuống, không nói gì một hồi. Rồi ổng nói: "Chị Lài. Mai tui nói hết với con Sa. Chuyện ông Hảo. Tui giữ đủ lâu rồi."
– Ổng nói chuyện gì của ba?
– Ổng không nói. Má tưởng ổng nói chuyện cái cân. – Má cô nhìn lên bàn thờ. – Má nghĩ ổng định khai ra hết chuyện ba mày làm cân gian cho ổng. Má nghĩ ổng muốn cả bến biết. Má nói, anh Năm, anh đừng. Con Sa nó không chịu nổi đâu. Nó còn ngồi cái chợ đó. Anh nói ra thì nó đi đâu?
– Rồi ổng nói gì?
– Ổng nói: "Nó chịu được hơn chị nghĩ." – Má cô nuốt khan. – Rồi ổng đứng dậy, cúi đầu chào má một cái. Hai chục năm má quen ổng, chưa thấy ổng cúi đầu chào ai. Rồi ổng đi.
Sa về tới nhà lúc gần chín giờ. Má cô đã tắt ti vi, ngồi trong bếp. Bà không kể. Chín giờ mười lăm ông Năm gọi Sa. Mười giờ Sa tắt đèn đi ngủ. Má cô nằm trong buồng, mở mắt nhìn màn, nghe tiếng thở của con gái bên kia vách.
– Mười giờ rưỡi má chịu không nổi. Má ngồi dậy, khoác cái áo bà ba nâu, đi ra. Má tính ra vựa năn nỉ ổng lần nữa. Năn nỉ ổng đừng nói với mày. Nói với công an, nói với ai cũng được, mà đừng nói với mày.
Đi bộ từ hẻm ra hàng dương trước dãy vựa mất mười phút. Đèn đường chỗ đó hư. Bà đứng dưới gốc dương bên này đường, nhìn sang vựa Năm Bền. Cửa nhỏ đóng. Phía sau vựa, chỗ cửa gác, có tiếng tời kêu rè rè, ánh đèn pha của một chiếc xe tải hắt lên mái tôn. Bà biết đó là xe đá. Tối thứ Bảy nào cũng vậy.
– Má đứng chờ. Má không dám qua lúc có người. Rồi tiếng tời tắt. Xe đá chạy đi, về phía lò. Má mới tính bước qua thì thấy có người đi bộ tới, đi thẳng tới cửa nhỏ, gõ. Má né vô gốc dương.
– Anh Khương.
– Thằng Khương. Má nhận ra cái dáng nó, to như cái tủ. Nó gõ cửa, ông Năm chửi vọng ra, nó đứng gõ thêm, rồi nó đi về phía đầu bến. – Má cô ngừng một chút. – Nó có quay lại nhìn chỗ má đứng một cái. Má tưởng nó thấy má. Má sợ muốn đứng tim.
Thằng Khương đi rồi, bà vẫn đứng đó. Bà không dám qua. Bà đứng chừng mười phút, chân mỏi, muỗi cắn, nghĩ tới nghĩ lui, nửa muốn về, nửa muốn gõ cửa. Rồi có một cái bóng khác.
– Từ phía bãi đi lên. Phía cuối bến. – Má cô chỉ tay về phía nam, theo thói quen, dù bức vách trước mặt bà chẳng có gì. – Đi bộ. Đi lẹ, đầu cúi. Không có đèn. Tối thui, má chỉ thấy cái bóng đàn ông. Nó đi tới cửa nhỏ, nói gì đó nhỏ lắm, má không nghe. Rồi cửa mở. Nó đi vô.
– Má thấy mặt không?
– Không. – Bà lắc đầu. – Má tưởng thằng Khương quay lại. Mới đi đó, quay lại. Má nghĩ nó đi một vòng cho nguội rồi quay lại năn nỉ tiếp, ông Năm thấy nó lì thì mở cửa.
Sa ngồi yên. Cái bóng đàn ông đi bộ từ phía bãi. Phía cuối bến.
– Rồi má làm gì?
– Má băng qua đường. – Má cô nhìn xuống tay mình. – Má không biết má băng qua làm chi. Má tính đứng sát vách nghe coi hai người nói gì, coi thằng Khương có làm gì ổng không. Má đi vòng ra hông vựa, chỗ cái rãnh nước cá chảy ra biển. Tối quá, má sụp chân xuống rãnh, ướt tới đầu gối, cái vạt áo nhúng xuống nước cá, hôi rình.
Cái áo bà ba nâu trên dây phơi sáng Chủ nhật. Không phải nồi nước luộc don.
– Má đứng sát vách tôn. Tiếng hai người nói vọng ra từ trên cao, chỗ khe mái, chắc là trên gác. Ban đầu nói nhỏ. Rồi lớn. Ông Năm nói lớn, chửi thề. Má nghe ổng nói "mày đừng có dạy tao". Má nghe người kia nói gì đó, nhỏ, nghe không ra. Rồi người kia cũng lớn tiếng.
Má cô dừng lại. Bà nhắm mắt.
– Má nghe được một câu. Một câu thôi. Rõ như ai nói vô tai má.
– Câu gì má?
Má cô mở mắt ra, nhìn thẳng vào Sa, và nói chậm, từng chữ, như người đọc lại một câu đã thuộc lòng vì đã tự đọc cho mình nghe cả trăm lần trong đêm:
– "Anh nói ra thì tui chết, mà anh cũng có sống được mấy tháng nữa đâu."
Ngọn đèn dầu trên bàn thờ chao đi một cái, rồi đứng lại.
– Rồi ông Năm cười. – Má cô nói tiếp, nhanh hơn, như muốn cho xong. – Cười lớn lắm, cười như điên. Ổng nói: "Thì tao chết. Tao nói." Má sợ. Má sợ quá. Má quay lưng chạy. Má lội qua cái rãnh, chạy ra đường, chạy về. Má không dám ngó lại.
– Lúc đó mấy giờ má?
– Má không coi đồng hồ. – Bà lắc đầu. – Về tới nhà thì cái đồng hồ trên vách chỉ mười một giờ rưỡi. Má đi bộ chậm, má run chân. Chắc má bỏ chạy lúc mười một giờ mười mấy phút.
– Má có nghe tiếng gì nữa không? Lúc má chạy. Tiếng ngã, tiếng la…
– Không. – Bà nói. – Má không nghe gì nữa. Má chỉ nghe tiếng ông Năm cười.
Rồi bà kể nốt. Về tới nhà, bà không dám bật đèn. Bà cởi cái áo ướt, nhét vào thau, đẩy xuống gầm bếp. Bà ngồi trong bếp tối tới gần ba giờ sáng, không ngủ, không nhúc nhích. Ba giờ, nghe tiếng chuông báo thức trong buồng con gái, bà chạy vào buồng mình, kéo màn, nằm im. Ba giờ hai mươi, nghe tiếng Sa dắt xe ra hẻm. Bà muốn chạy ra níu con lại mà không dám. Bà nằm đó tới bốn giờ, rồi mới dậy nhóm bếp, làm don như cái máy, năm giờ gánh ra chợ như mọi ngày.
– Má mới đặt gánh xuống thì người ta nói ông Năm chết rồi, con Sa là người thấy. – Má cô nói, giọng đã khàn hẳn. – Má ngồi bệt xuống đất, giữa chợ. Má nghĩ, thằng Khương giết ổng. Má nghĩ, con má tới đó một mình, con má thấy ổng, rồi người ta nghi con má. Má nghĩ, nếu má nói ra là má có ở đó, thì người ta hỏi má ra đó làm chi. Rồi chuyện cái cân lòi ra. Rồi chuyện ba mày lòi ra.
– Rồi má nói với công an là má ở nhà cả đêm.
– Ừ. Má nói hai mẹ con ở nhà. Nói vậy là cho cả mày. – Bà nhìn con gái. – Rồi má giặt cái áo. Rồi má nói dối mày chuyện nồi nước don.
Sa không nói gì. Cô nghĩ tới cái đêm má kể chuyện món nợ, ngồi ở đúng chỗ này, và câu cô hỏi: "Tối thứ Bảy, ổng gọi con. Ổng có gọi má không?" Và câu má trả lời, quay lưng lại với cô: "Ổng không gọi má." Ông không gọi. Ông tới.
– Sao má không nói với con? – Cô hỏi, rất nhỏ. – Từ hôm đó tới giờ, ba tuần rồi má.
– Nói làm chi? – Má cô lắc đầu. – Má sợ thằng Khương. Má sợ cho mày. Mà má cũng sợ… – Bà ngừng lại, tay đưa lên quấn lại cái khăn cổ. – Nhà thằng Khương còn con Ni. Con nhỏ học giỏi, muốn làm bác sĩ. Ba nó đi tù thì nó làm sao. Má nghĩ ông Năm ác với cả bến, ác với nhà mình, chết rồi thì thôi. Má nghĩ má im thì không ai biết.
Bà úp mặt vào hai bàn tay. Vai bà rung lên, không ra tiếng. Sa ngồi nhìn má khóc, lần thứ hai trong ba tuần, và lần này cô không đưa tay ra. Không phải vì giận. Mà vì đầu cô đang làm một phép tính, và cô sợ nếu cô đưa tay ra thì phép tính đó sẽ dừng lại.
Câu má nghe được. "Anh nói ra thì tui chết." Người nói câu đó sợ một chuyện mà ông Năm sắp nói ra, một chuyện đủ để người đó "chết". Và vế sau: "mà anh cũng có sống được mấy tháng nữa đâu."
Người đó biết ông Năm sắp chết.
Ở cả cái bến Cửa Nậy này, vào tối thứ Bảy mười một tháng Tư, ai biết chuyện đó? Bà Năm biết. Bà Năm ở nhà với em gái cả đêm. Bác sĩ ngoài Đà Nẵng biết. Ông Năm biết.
Và người đó không phải anh Khương.
Sa nhớ rõ như nhìn con số trên màn hình. Sáng thứ Hai hai mươi tháng Tư, ở sạp cô, anh Khương ngồi xoay xoay ly trà. Khi cô nói "ông Năm bệnh, ổng biết mình không sống được bao lâu", anh đã hỏi lại "bệnh gì?", rồi "từ hồi nào?". Rồi anh ngồi nhìn hai bàn tay mình rất lâu, rồi nói "ổng chửi tui như vậy, mà ổng biết ổng sắp chết". Đó không phải cái mặt của một người đã biết từ trước. Cô đã ngồi trước mặt anh, cách một cái mặt sạp. Cô là người cân tay. Cô nhận ra được một vật nặng hơn hay nhẹ hơn vài lạng. Cô nhận ra được một người đang nói thật.
Anh Khương chỉ biết ông Năm bệnh từ cái buổi sáng đó. Từ miệng cô.
Má cô vẫn ngồi úp mặt. Sa đứng dậy, đi ra hiên. Đêm mười chín tháng Ba, trăng vừa nhô lên sau rặng dương phía biển, méo một bên, đỏ quạch, và cây khế đứng đen thẫm giữa sân.
Một cái bóng đàn ông, đi bộ từ phía bãi, phía cuối bến. Một người biết ông Năm sắp chết. Một người gọi ông Năm là "anh", xưng "tui".
Cô đứng đó rất lâu, cho tới khi nghe sau lưng tiếng má cô thổi tắt ngọn đèn dầu trên bàn thờ.
— Hết chương 23 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe