Chương 35: Giỗ ba
Mưa từ đêm hôm trước, mưa dầm, mưa không ra hạt mà như ai rây bột nước lên mái ngói, và sáng ngày giỗ cha, sân nhà Sa ngập tới mắt cá chân.
Thứ Ba, hai mươi tháng Mười. Mười một tháng Chín âm lịch. Bảy năm trước, cũng một ngày giữa tuần, cũng gần mùa mưa, cha cô ra chợ cân lại cái cân đối chứng, đứng chụp ảnh, nheo mắt vì nắng. Năm nay không có nắng. Từ đầu tháng Mười, biển động liên tục, có hai cơn áp thấp đi ngang ngoài khơi, ghe cả bến nằm bờ hơn nửa tháng. Chợ cá họp thưa thớt, mỗi sáng chỉ vài ghe nhỏ đi gần bờ về với mấy thúng cá cơm, cá liệt. Dãy vựa đóng cửa gần hết. Vựa Toại mở cửa mỗi sáng, dù không có cá, vì Toại nói vựa đóng cửa thì người ta tưởng mình chết.
Má cô dậy từ ba giờ. Bà không làm don đi bán. Bà làm don cho mâm giỗ.
– Ba mày ăn don của má ba chục năm mà không chán, – bà nói, tay bóc vỏ don thoăn thoắt dưới ngọn đèn bếp. – Ổng nói cả cái bến này chỉ có don của má là không có cát.
Sa ngồi xổm bên cạnh má, nhặt rau. Ngoài kia mưa rơi lộp độp trên mái tôn nhà Út Mây. Cây khế trước sân ướt sũng, mấy trái khế chín rụng xuống nước, nổi lềnh bềnh.
Mâm giỗ dọn lên lúc mười giờ. Một tô bánh tráng xúc don, nóng hổi, rắc hành phi, tiêu, ớt. Một con gà luộc vàng ươm. Một dĩa xôi đậu. Một tô canh chua cá ngừ, cá Toại đem tới từ sáng sớm, con ngừ sọc dưa duy nhất vựa nó mua được tuần này. Một dĩa cá nục kho tiêu, mặn như mọi bữa.
Trên bàn thờ, dưới tấm ảnh cha cô mặc áo sơ mi trắng cười hiền, có ba thứ không có trên bàn thờ nhà ai khác ở bến này. Tờ giấy mượn tiền năm 2009, ố vàng, gấp tư, hai chữ in hoa bằng bút xanh chạy ngang. Một tờ văn bản đánh máy, có con dấu đỏ, gửi tới nhà từ tháng Bảy. Và cái hộp gỗ nhỏ lót nhung xanh, nắp mở, mười một quả cân đồng nằm ngay ngắn như hàng răng, ô góc phải vẫn trống.
Tờ văn bản có con dấu đỏ tới nhà vào một buổi chiều cuối tháng Bảy. Má cô ký nhận ở cổng, đứng đọc ngay dưới gốc khế, đọc chậm, môi mấp máy theo từng chữ như hôm đọc tờ giấy mượn tiền. Những chữ khô khốc của người làm hồ sơ. Ông Kiều Văn Hảo bị một xe ô tô tải do người khác điều khiển va chạm từ phía sau; người điều khiển phương tiện đã rời khỏi hiện trường; vụ việc không phải do ông Hảo tự gây ra. Đọc xong, má cô không nói gì. Bà đi vào nhà, đặt tờ giấy lên bàn thờ, cạnh tờ giấy mượn tiền, rồi đứng đó, nói với tấm ảnh một câu mà Sa đứng ở cửa nghe được: "Đó. Tui nói ông không có té mà."
Khách tới từ mười giờ, đội mưa, áo mưa nhỏ nước thành vũng dưới hiên.
Ông Luận tới đầu tiên, tay cầm một bó cúc vàng bọc giấy báo, cái mũ vải ướt đẫm. Ông thắp nhang, đứng trước bàn thờ rất lâu, môi mấp máy như nói chuyện với ai. Rồi ông quay ra, ngồi xuống cái ghế ở góc, chỗ ông vẫn ngồi mỗi lần tới nhà cô, đặt cái đồng hồ quả quýt lên đùi.
Toại tới với Lượm, hai đứa mặc áo sơ mi trắng, ướt tới đầu gối. Toại thắp nhang, rồi đứng lâu trước cái hộp quả cân, nhìn cái ô trống. Rồi nó cúi đầu thật thấp, nói nhỏ, đủ cho Sa đứng cạnh nghe: "Chú Hảo. Chú Năm của con giữ đồ của chú bảy năm. Chú con không xin lỗi chú được nữa. Con xin giùm." Lượm thì vừa thắp nhang xong đã chạy xuống bếp phụ má cô bưng chén.
Vợ chồng anh Khương tới với bé Ni. Chị Mai đem một bịch cá khô chỉ vàng, loại ngon nhất chị phơi được trước mùa mưa. Anh Khương mặc cái áo sơ mi duy nhất anh có, cổ áo hơi chật. Anh thắp nhang, vái ba vái, rồi đứng thẳng, nói to trước bàn thờ, như nói với một người đang ngồi đó:
– Chú Hảo. Con là thằng Khương, hồi nhỏ chú dạy buộc dây câu. Con tới thắp cây nhang cho chú.
Bé Ni đứng sau ba nó, cặp kính gọng kim loại mới phản chiếu ánh nến. Nó đã lên lớp mười hai, học khối B, tối nào cũng học tới khuya.
Ông Chín Lưới tới, chân đất như mọi khi, đội cái nón lá rách vành. Ông Tư Kiểng giữ miếu tới, lưng còng như lưỡi câu, chống cây gậy tre, đem theo một gói nhang trầm của miếu. Chị Hến tới, chị Út Mây qua từ bên kia hàng rào. Căn nhà cấp bốn mái ngói âm dương chật ních người, những cái áo mưa treo kín hiên, tiếng nói chuyện rì rầm lẫn với tiếng mưa.
Mười một giờ, có người gõ cửa. Sa ra mở. Bà Năm đứng dưới hiên, áo mưa trùm kín, sau lưng là bà em gái cầm dù. Bà đã gầy đi, tóc bạc thêm, nhưng lưng vẫn thẳng như cây sào.
– Tui đi xe khách từ Đà Nẵng vô hồi sáng, – bà nói. – Đường ngập mấy khúc. Tui tới trễ.
Bà vào thắp nhang. Bà đứng trước bàn thờ, nhìn tấm ảnh cha cô, nhìn tờ giấy mượn tiền có hai chữ in hoa của chồng bà, nhìn cái hộp quả cân. Rồi bà quay qua má cô, đứng dưới bếp, tay còn cầm cái vá.
Hai người đàn bà nhìn nhau một lúc lâu. Cả nhà im đi.
– Chị Lài, – bà Năm nói.
– Chị Năm, – má cô đáp.
Chỉ vậy. Rồi má cô quay vào bếp, múc thêm một tô don, đặt lên mâm, ở chỗ trống cạnh ông Luận. Bà Năm ngồi xuống chỗ đó.
Mưa vẫn rơi. Mọi người ăn cơm, nói chuyện nhỏ, chuyện mưa, chuyện biển động, chuyện giá đá, chuyện con Ni năm sau thi. Không ai nhắc tới tháng Tư. Không ai nhắc tới cái tên chú Nghĩa. Nhưng Sa biết ai ngồi trong căn nhà này cũng đang nghĩ tới nó, như người ta biết có một cái ghế trống ở đầu mâm mà không ai dám nhìn.
Gần một giờ, Hiển tới.
Anh ta mặc thường phục, áo khoác mỏng ướt đẫm, cầm một nén nhang đã mua sẵn ở đầu hẻm. Anh ta thắp nhang, vái, rồi đứng nhìn tấm ảnh cha cô một lúc, như một người lần đầu gặp ai đó mà đã nghe kể quá nhiều. Má cô mời anh ta ngồi ăn. Anh ta từ chối, rồi không từ chối được, ngồi xuống ăn một chén don, khen ngon.
Ăn xong, anh ta ra hiên đứng với Sa, nhìn mưa.
– Tôi tới vì giỗ, – anh ta nói. – Không phải vì việc. Nhưng có một việc tôi báo luôn với chị cho tiện. – Anh ta ngừng lại. – Hồ sơ đã chuyển sang viện kiểm sát từ tháng trước. Toà án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Phiên sơ thẩm ngày hai mươi sáu tháng Mười một. Chị, bà Lài, bác sĩ Luận, anh Khương sẽ nhận giấy triệu tập.
Sa nhìn ra sân. Nước mưa đọng thành vũng dưới gốc khế, mấy trái khế chín vẫn nổi lềnh bềnh.
– Chú có khai thay đổi gì không anh?
– Ông ấy không thay đổi lời khai lần nào. – Hiển nói. – Từ đêm giông tới giờ. Tôi làm nghề mười hai năm. Ít ai như vậy.
Anh ta không nói thêm. Sa cũng không hỏi. Cô biết anh ta chỉ nói được tới đó.
Hiển về lúc hai giờ. Khách về dần. Ông Tư Kiểng về trước, Toại chở. Vợ chồng anh Khương về, bé Ni vẫy tay với cô từ đầu hẻm. Bà Năm về với bà em gái, đi xe khách chiều ra Đà Nẵng. Trước khi đi, bà đứng ở hiên, nhìn vào cái hộp quả cân trên bàn thờ một lần nữa, rồi nói với Sa:
– Chừng nào nó về ô cũ, cô nhắn tui một tiếng.
Ông Luận ở lại lâu nhất. Ông ngồi với má cô ở nhà trước, uống trà, nói chuyện Huế, chuyện bà vợ ông, chuyện con sông Hương mùa lụt. Má cô ít nói, chỉ nghe, thỉnh thoảng rót thêm trà. Sa rửa chén dưới bếp, nghe giọng Huế chậm rãi của ông vọng xuống, lẫn với tiếng mưa trên mái, thấy căn nhà ấm lên như lâu lắm rồi không ấm.
Bốn giờ chiều, khi ông Luận đã về, bưu tá gõ cửa. Một gói nhỏ bọc giấy xi măng, buộc dây ni lông, gửi từ Sài Gòn. Người gửi: Tạ Minh Tâm.
Má cô cầm cái gói, đứng ở cửa, không mở.
– Má, – Sa nói.
Má cô gỡ dây, mở giấy. Bên trong không có thư. Chỉ có một tấm ảnh đen trắng cỡ bàn tay, góc đã quăn, lồng trong một cái khung gỗ nhỏ mới đóng. Một thanh niên chừng hai mươi và một thằng nhỏ chừng mười lăm, cởi trần, đứng trên mũi một chiếc ghe gỗ, khoác vai nhau, cười toe toét về phía ống kính. Sau lưng họ là cửa biển Cửa Nậy mấy chục năm trước, chưa có bờ kè, chưa có dãy vựa. Người lớn gầy, tóc bờm xờm, cái mũi thẳng như mũi Sa. Thằng nhỏ thấp, đậm, da đen như vỏ cua rang.
Mặt sau tấm ảnh có một dòng chữ viết tay, mực đã phai, nét chữ nắn nót có dấu đủ, cuối dòng có một dấu chấm nhỏ:
"Anh Hảo với Nghĩa. Chuyến ghe đầu tiên của Nghĩa. 1980."
Má cô đứng nhìn tấm ảnh rất lâu. Bà không khóc. Bà không đặt nó lên bàn thờ. Bà cũng không vứt đi. Bà gói nó lại trong lớp giấy xi măng, buộc dây cẩn thận, rồi mở cái ngăn kéo dưới bàn thờ, đặt nó vào trong, đóng lại.
– Để đó, – bà nói. – Chừng nào má coi được thì má coi.
Tối hôm đó, sau khi má đã ngủ, Sa ngồi một mình trước bàn thờ cha. Mưa đã ngớt, chỉ còn tiếng nước nhỏ giọt từ mái ngói xuống vũng nước dưới hiên, từng giọt, từng giọt, đều như tiếng đá tan trên mặt cân. Ngọn đèn dầu vặn thấp. Khói nhang trầm của ông Tư còn vương trong nhà.
Cô nhìn cái hộp gỗ lót nhung xanh. Mười một quả cân đồng nhỏ dần nằm ngay ngắn. Ô góc phải, ô lớn nhất, vẫn trống, nhung trong ô in một vòng tròn sẫm màu đúng kích thước đáy quả cân một ký.
Còn ba mươi bảy ngày nữa là tới phiên toà. Rồi còn bao lâu nữa, cô không biết. Cô chỉ biết cái ô đó đã chờ bảy năm. Nó chờ thêm được.
— Hết chương 35 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe