Chương 15: Người đàn bà dưới hàng dương
– Cân lại cả bến? – Ông Phẩm nhắc lại, như người ta nhắc lại giá một con cá mà mình nghĩ là nghe lộn. – Cô nói cân lại là cân lại cái gì?
– Tất cả cân của tất cả vựa, chú. – Sa nói. – Ngày thứ Bảy này. Ai có cân thì đem ra đầu chợ, hoặc con tới tận vựa. Con kiểm bằng quả cân chuẩn, có người chứng kiến. Mở hộp nối ra coi. Con không lấy tiền.
Chín giờ sáng thứ Ba. Văn phòng ban quản lý chợ cá có máy lạnh chạy vù vù, lạnh tới mức Sa thấy hai cánh tay mình nổi da gà. Ông Phẩm ngồi sau cái bàn gỗ bóng loáng, sau lưng là tấm bảng tin chợ dán đầy giấy khen, thông báo, lịch trực, và mấy tấm ảnh chụp các dịp lễ. Ông Luận ngồi cạnh Sa trên cái ghế bọc nệm, mũ vải đặt trên đùi, hai tay nắm lấy vành mũ.
– Không được, – ông Phẩm nói, mỉm cười. – Cô làm vậy khác gì cầm loa đi rao cả bến cân gian.
– Thì có cân gian thật, chú.
– Một cái. Của ông Năm. Mà ông Năm chết rồi. – Ông xoè hai bàn tay. – Cô muốn bôi tro trát trấu lên cả bến vì một cái cân của người chết hả?
– Con không biết có phải một cái không. Chính vì không biết nên con mới muốn cân.
Ông Phẩm thôi cười. Ông nhìn Sa một lúc lâu, rồi quay qua ông Luận, giọng ngọt hơn:
– Bác sĩ là người có học, bác sĩ nói giùm cô Sa. Chợ mình đang yên. Bây giờ làm cái này, mối lái ngoài tỉnh nghe, người ta nghĩ cả chợ Cửa Nậy có vấn đề. Xe lạnh người ta đi chợ khác. Ai chịu?
Ông Luận im lặng một lúc. Rồi ông đặt cái mũ lên bàn, ngay ngắn.
– Ông Phẩm à, – ông nói, chậm rãi, giọng Huế nhỏ nhẹ như đọc đơn thuốc. – Tui làm pháp y ba mươi năm. Tui học được một điều: cái chi giấu đi thì nó thối. Cá giấu dưới đá thì ba bữa cũng thối. Bây chừ mối lái chưa biết, mà dân ghe thì biết hết rồi, chỉ là chưa ai dám nói. Thứ Sáu tuần rồi người ta đập cái cân đối chứng. Tuần tới người ta đập cái chi?
Ông Phẩm không trả lời.
– Mình cân lại, – ông Luận tiếp, – có người làm chứng, có biên bản. Cân mô đúng thì người ta biết là đúng. Cân mô sai thì mình biết mà sửa. Mối lái người ta mua cá chớ không mua cái tiếng. Mà người ta mua cá thì người ta thích cái chợ có cân đúng. – Ông cầm lại cái mũ. – Ông không cho làm thì tui lên phường xin. Tui già rồi, tui rảnh.
Ông Phẩm nhìn hai người, cái nhìn như người đứng trên ghe thấy nước tràn vào mà không biết lỗ thủng ở đâu.
– Bác sĩ cứ lên phường, – ông nói, giọng khô lại. – Phường cho thì tui chịu.
Ra khỏi văn phòng, Sa đi chậm lại cho ông Luận theo kịp. Cái nắng tháng Tư lúc chín giờ đã rát mặt. Ông đội mũ, kéo vành sụp xuống che mắt.
– Bác ơi. Sao bác giúp con?
Ông Luận không trả lời ngay. Ông đi thêm mấy bước, rồi dừng lại dưới bóng một cây bàng, chống tay lên thân cây thở.
– Bà nhà tui sinh ra ở cái bến ni, – ông nói. – Bà mất rồi, tui ở lại, mà tui chẳng làm được chi cho cái bến của bà. Sáu năm tui đi bộ, uống trà, nhờ o lau cái đồng hồ không hư. – Ông cười, khoé mắt nhăn lại. – Chừ có việc cho tui làm, tui mừng.
Ông đi lên phường ngay sáng hôm đó. Sa không biết ông nói gì với người ta. Chỉ biết trưa thứ Tư, bà phó chủ tịch phường gọi cho ông Phẩm, rồi ông Phẩm gọi cho Sa. Giọng ông như nhai sạn: thứ Bảy này, bảy giờ sáng, ở đầu chợ, có cán bộ phường, có người bên quản lý thị trường xuống chứng kiến. Vựa nào cũng phải đem cân ra.
Tối thứ Ba, ăn cơm, Sa nhìn má.
Từ sáng hôm qua cô nhìn má như nhìn một cái cân mà cô không dám đặt quả cân chuẩn lên. Má vẫn vậy. Hai giờ sáng dậy làm don, năm giờ gánh ra chợ, mười giờ về, nằm nghỉ, chiều ngồi lặt rau, tối nấu cơm. Từ thứ Năm bà đã ra chợ lại. Người trong bến vẫn ăn don của bà, chẳng ai nói gì, như thể chồng bà chưa từng ăn cân của ai. Có lẽ người ta thương bà. Có lẽ người ta chỉ thương tô don hai lăm nghìn.
– Má. Cái áo bà ba nâu của má, sao bữa Chủ nhật ông Năm mất má lại giặt?
Má cô đang gắp cá, đôi đũa dừng lại một nhịp, rồi gắp tiếp.
– Sáng Chủ nhật má làm đổ nồi nước luộc don lên người. Tanh rình. Giặt chớ để chi.
– Má có bị phỏng không?
– Nước nguội rồi. – Bà đặt miếng cá vào chén Sa. – Ăn đi.
Sa ăn. Cá nục kho tiêu, mặn như mọi bữa. Má cô làm đổ nồi nước luộc don. Có thể lắm. Bà sáu mươi bốn tuổi, tay đã yếu, sáng nào cũng bưng cái nồi nhôm hai chục lít. Có thể lắm.
Chỉ là sáng Chủ nhật hôm đó, ba giờ hai mươi, lúc cô dắt xe ra khỏi nhà để tới vựa ông Năm, bếp nhà cô chưa đỏ lửa. Nồi don chưa bắc lên. Và lúc mười giờ cô về, gánh don ở góc sân còn hơn nửa nồi, nghĩa là sáng đó má cô vẫn ra chợ, vẫn bán được một ít. Nếu bà làm đổ nồi nước luộc lên người lúc làm don, thì lúc đó là trước năm giờ sáng. Bà đã mặc cái áo tanh rình đó ra chợ, bán tới chín giờ, rồi về mới giặt?
Và còn một điều nữa, nhỏ thôi, mà cô đã quên mất. Chiều Chủ nhật má nói với công an rằng hai giờ rưỡi bà dậy làm don, thấy Sa còn ngủ trong buồng. Nhưng ba giờ hai mươi, lúc Sa đi, bếp còn tắt, cửa buồng má còn đóng.
Cô không hỏi tiếp. Cô không muốn nghe má mình nói dối thêm lần nữa, nếu đó là nói dối. Và cô càng không muốn biết, nếu đó không phải.
Tối thứ Bảy hôm đó, cô nhớ lại, cô không ở nhà từ bảy giờ tới gần chín giờ. Nhà hàng hải sản ở đầu cầu gọi cô tới chỉnh cái cân bàn trong bếp, cân lệch làm khách cãi nhau với nhân viên về giá con tôm hùm. Cô làm xong lúc tám giờ rưỡi, ông chủ mời ở lại ăn tô cháo hàu, về tới nhà gần chín giờ. Má cô đang ngồi xem ti vi. Chín giờ mười lăm, ông Năm gọi. Mười giờ cô tắt đèn đi ngủ. Má cô nói bà ngủ từ chín giờ rưỡi.
Cô không có lý do gì để nghi ngờ điều đó. Ngoài một cái áo nâu nhỏ nước trên dây phơi, và một cái búi tóc thấp sau ót dưới hàng dương mà anh Khương không thấy mặt.
Thứ Tư, cô ngồi ở sạp từ ba giờ rưỡi tới mười một giờ. Cô kiểm lại bộ quả cân gang chuẩn của mình bằng cái cân phân tích nhỏ mượn của trường cấp ba trên phường, lau từng quả, ghi lại từng con số. Thứ Bảy này cô không được sai. Một gam cũng không. Ông Luận ngồi cạnh cô cả buổi sáng, đọc báo, thỉnh thoảng đọc to một tin gì đó về giá xăng hay thời tiết, không hỏi cô điều gì.
Gần trưa, lúc ông gấp tờ báo lại, Sa hỏi, mắt vẫn nhìn quả cân gang trong tay:
– Bác. Nếu một người nói dối công an để che cho người nhà, người đó có tội không bác?
Ông Luận im một lúc.
– Tui không phải luật sư, o. Tui chỉ biết khai không đúng sự thật thì có thể bị xử lý, nặng nhẹ tuỳ chuyện, tuỳ người ta có làm sai lệch vụ việc hay không. – Ông đặt tờ báo xuống đùi. – Cái đó luật nói. Còn cái tui biết thì khác.
– Bác biết gì?
– Người nói dối để che cho người nhà, – ông nói, – thường là đang sợ một chuyện mà họ chưa chắc là có thật. – Ông nhìn cô. – Mà o hỏi câu ni, là o đang thương ai đó.
Sa không trả lời. Ông Luận cũng không hỏi tiếp. Ông đứng dậy, đội mũ, đặt cái đồng hồ quả quýt lên mặt sạp, rồi đi về, lần này không nói nó chạy chậm.
Chiều thứ Tư, Sa về sớm. Má cô đi đám giỗ bên xóm Bàu chưa về. Cô ra sân sau, gỡ đồ trên dây phơi.
Bên kia hàng rào dâm bụt, chị Út Mây cũng đang phơi đồ. Út Mây ba mươi tám tuổi, nhà sát vách, chồng đi tàu viễn dương, một mình nuôi hai đứa nhỏ, nói chuyện như bắp rang, chuyện gì trong hẻm cũng biết trước người ta một ngày. Thấy Sa, chị vẫy cái áo ướt trong tay.
– Sa! Ngày thứ Bảy cân lại cả chợ hả? Nghe nói ông Phẩm tức muốn xỉu.
– Dạ. Bác Luận xin phường cho.
– Hay. Cân cho mấy ông vựa biết mặt. – Chị Út cười khanh khách, giũ cái áo kêu phành phạch. – Mà nè, má em đỡ chưa? Bữa Chủ nhật thấy bả mặt mày xanh lè.
– Má em đỡ rồi.
– Ừ, mấy bữa đó cả bến lộn xộn, ai cũng mất ngủ. – Chị Út kẹp cái áo lên dây, với tay lấy cái quần của thằng con. – Cái tối thứ Bảy ông Năm chết á, chị đi đổ rác ở đầu hẻm, thấy má em đi ra ngoài đường lớn. Mười giờ rưỡi rồi đó em. Đi lẹ lắm, đầu cúi cúi. Chị kêu "dì Lài đi đâu khuya vậy", bả không nghe. Chắc bả đi miếu cầu an hả em? Mấy bữa đó nghe nói có cúng gì ngoài miếu.
Sa đứng yên, tay còn cầm cái kẹp phơi đồ bằng nhựa. Cái kẹp siết vào ngón tay cô, đau nhói.
– Dạ, – cô nghe mình nói. – Chắc vậy.
Chị Út Mây không để ý. Chị đã quay sang chửi thằng con đang leo lên cây ổi sau nhà.
Sa gỡ hết đồ xuống, ôm vào nhà, đặt lên giường, rồi ngồi xuống cạnh đống quần áo khô còn ấm nắng. Trong đống đó có cái áo bà ba nâu sẫm của má, gấp làm tư, mùi xà bông thơm phức.
Tối thứ Bảy mười một tháng Tư, mười giờ rưỡi, má cô đi ra đường lớn, đi nhanh, đầu cúi. Từ hẻm nhà cô ra tới hàng dương trước dãy vựa, đi bộ mười phút.
Và chiều Chủ nhật, má cô đã nói với công an rằng cả đêm hai mẹ con đều ở nhà.
Ngoài sân, cây khế lay lay trong gió chiều. Sa ngồi đó, nhìn cái áo nâu, cho tới khi nghe tiếng dép má lẹp xẹp ngoài đầu hẻm.
— Hết chương 15 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe