Chương 20: Má đi lễ
– Đi miếu, – má cô nói. – Cầu an cho mày.
Bà nói câu đó không chút ngập ngừng, như đã nói nó trong đầu nhiều lần trước khi có ai hỏi. Rồi bà gắp một miếng cá cơm rim bỏ vào chén Sa, như mọi tối.
– Tối thứ Bảy ông Năm gọi mày ra vựa lúc nửa đêm. Má nằm không yên. Má ra miếu thắp cây nhang.
– Mười giờ rưỡi đêm hả má?
– Chớ mấy giờ? – Bà đặt đũa xuống. – Ai nói với mày?
– Chị Út Mây thấy má ra đường.
Má cô nhìn con gái. Ngọn đèn huỳnh quang trên trần kêu rè rè, một con thiêu thân đập cánh vào ống đèn, rơi xuống mặt bàn, cánh còn run.
– Út Mây thấy thì Út Mây thấy, – bà nói. – Má đi miếu. Mày hỏi chi nữa?
– Rồi má nói với công an là má ở nhà cả đêm.
– Thì má về nhà. Má đi có mười lăm phút. – Bà đứng dậy, bưng chén đĩa ra sau. Tiếng nước xối vào thau nhôm lớn hơn mọi bữa. – Đi thắp cây nhang mà cũng phải khai với công an hả?
Sa ngồi lại một mình bên mâm cơm đã dọn. Cô biết má cô. Mỗi lần bà nói dối, bà nói nhanh và nói đủ, không thừa không thiếu, rồi bà kiếm việc gì đó cho hai tay làm. Hồi cô học lớp ba, con heo đất của cô bể, bà nói con mèo làm rớt. Cô tin. Ba ngày sau cô mới biết bà lấy tiền trong heo đất đi đóng tiền điện. Bà cũng nói nhanh và đủ như vậy, rồi ra sau rửa chén.
Miếu Bà nằm ngoài đầu gành, cách hẻm nhà cô chừng năm trăm mét. Đi bộ ra đó rồi về, thắp một cây nhang, mười lăm phút là vừa.
Nhưng từ hẻm nhà cô ra miếu thì rẽ trái. Ra hàng dương trước dãy vựa thì rẽ phải.
Sáng thứ Năm, Sa không ra chợ.
Ngày Ba mươi tháng Tư, bến Cửa Nậy đông như hội. Từ sáu giờ sáng, xe khách chở người du lịch đã đậu kín con đường bờ kè. Người ta đổ xuống chợ cá như ghe đổ cá lên bờ: đàn ông đội nón tai bèo, đàn bà quấn khăn kín mặt, con nít cầm cờ đỏ phất phơ. Họ đứng chụp ảnh bên mấy thúng cá ngừ sọc dưa, trả giá mấy con mực một nắng, xếp hàng mua bánh tráng xúc don của má cô ở góc chợ. Má cô đi chợ từ năm giờ, gánh hai nồi thay vì một.
Sa chạy xe ra miếu Bà.
Miếu nằm trên một mỏm đá thấp nhìn ra biển, mái ngói rêu phong, hai con rồng đắp trên nóc đã sứt đuôi. Sân miếu lát gạch tàu, có một cây bàng già toả bóng mát và một cái lư hương bằng đồng lớn đặt giữa sân. Bên hông miếu có một cái chái nhỏ lợp tôn, là chỗ ông từ ở.
Ông Tư Kiểng giữ miếu này hơn bốn chục năm, từ hồi còn trai tráng. Bây giờ ông bảy mươi tám tuổi, lưng còng gập như lưỡi câu, tóc bạc trắng búi củ hành sau gáy, sáng nào cũng quét lá bàng trong sân từ năm giờ. Ông quen cha cô, quen má cô, quen cả ông bà nội cô. Ở bến này, đứa nhỏ nào đẻ ra cũng được ông bế vào miếu xin cho nhận Bà làm mẹ nuôi. Sa cũng vậy.
– Con Sa. – Ông dựng cây chổi chà vào gốc bàng, nheo mắt nhìn cô. – Lâu quá mới thấy mày ra. Mày lớn rồi mà mày cũng như ba mày, có chuyện mới tới.
– Dạ. Con có chuyện thật, ông.
Cô thắp ba cây nhang, cắm vào lư. Rồi cô ngồi xuống cái băng đá dưới gốc bàng, chờ ông quét xong một góc sân. Ông Tư quét chậm, từng nhát, mỗi nhát chổi kéo theo một mớ lá bàng đỏ và vàng. Gió biển thổi lá rơi xuống lại, ông quét tiếp, không vội.
– Ông Tư. Con hỏi ông chuyện tối thứ Bảy mười một tháng Tư. Cái đêm ông Năm Bền mất.
Ông Tư dừng tay.
– Tối đó miếu có lễ gì không ông?
– Lễ gì? – Ông lắc đầu. – Chiều thứ Bảy có cúng cầu an đầu mùa cá nam, mấy ông chủ ghe góp tiền làm. Cúng từ ba giờ, năm giờ là dọn. Tối thì không. Tối nào miếu cũng đóng cửa lúc chín giờ, tao gài then, tao đi ngủ. Già rồi.
– Tối đó có ai tới gõ cửa không ông? Chừng mười giờ rưỡi, mười một giờ.
– Không. – Ông Tư nhìn cô, đôi mắt già mờ mà không lơ đãng. – Tao ngủ ở cái chái này, ai vô sân là con chó nó sủa. Đêm đó nó không sủa. Nó chỉ sủa lúc gần sáng, lúc có xe công an chạy ngang ngoài đường.
Sa ngồi im. Một chiếc lá bàng rơi xuống vai cô.
– Má mày nói má mày ra đây hả? – Ông Tư hỏi.
Cô không trả lời. Ông Tư cũng không hỏi lại. Ông cúi xuống quét tiếp, một nhát, hai nhát.
– Má mày ít khi ra miếu ban đêm, – ông nói, không ngẩng lên. – Má mày ra ban ngày. Mùng một tháng nào cũng ra. Bảy năm nay chưa sót tháng nào.
– Ra cúng hả ông?
– Thì ra cúng. – Ông Tư ngưng một nhịp, rồi quét tiếp. – Rồi ngồi đó với tao một lát. Má mày buồn, mày biết hông.
Sa biết. Cô chỉ không biết là má cô ra miếu mỗi mùng một. Bảy năm, mỗi mùng một cô ngồi ở sạp từ ba giờ rưỡi tới trưa, má cô đi chợ từ năm giờ, rồi về. Cô chưa bao giờ hỏi má đi đâu sau chợ.
Lúc cô đứng dậy về, ông Tư dựng cây chổi lại vào gốc bàng.
– Con Sa. – Ông gọi. – Ba mày chết, má mày còn có mày. Mày đừng làm má mày sợ.
Cô quay lại nhìn ông. Ông đã cúi xuống nhặt mấy cái lá bàng trong lư hương, không nhìn cô nữa.
Chiều hôm đó, Toại được thả.
Sa biết tin từ thằng Lượm, người biết mọi tin ở bến trước cả người trong cuộc. Nó chạy tới nhà cô lúc bốn giờ chiều, mồ hôi nhễ nhại, nói một hơi: anh Toại về rồi, hết hạn tạm giữ, công an cho về, nhưng phải ở yên đó, gọi lúc nào phải có mặt lúc đó. Anh Toại đang ngồi ở bờ kè sau vựa, ngồi một mình, không ai dám tới.
Cô ra bờ kè. Toại ngồi đúng khối bê tông chắn sóng hôm đưa tang, chỗ nó nói với cô câu "cái cân sàn đó có hai mặt". Ba ngày trong trại tạm giữ làm nó gầy rộc đi, má hóp lại, râu ria lởm chởm, cái áo thun xám rộng thùng thình. Nó không hút thuốc. Nó chỉ ngồi nhìn biển.
Sa trèo lên, ngồi cách nó một sải tay, như lần trước.
– Chị tới làm chi? – Nó nói, không quay lại. Nhưng giọng nó không gắt như lần trước.
– Tới coi em có sao không.
– Không sao. – Nó cười khan. – Ăn cơm, ngủ, khai. Khai đi khai lại. Ông Hiển hỏi em một câu mười lần, em trả lời mười lần y chang. Rồi ổng hỏi qua câu khác, rồi lại hỏi câu cũ.
– Ổng hỏi em gì?
– Cây đá. – Toại quay qua nhìn cô lần đầu tiên. Mắt nó đỏ, nhưng tỉnh. – Ổng hỏi em lúc em vô vựa thì cây đá nằm đâu. Em nói nằm trên cân. Ổng hỏi em chắc không. Em nói chắc. Ổng hỏi cây đá còn nguyên hay nứt. Em nói nứt một góc, vụn đá văng tùm lum. Ổng hỏi nước chảy nhiều không. Em nói nước chảy thành vũng dưới rãnh rồi. – Nó ngừng lại. – Ổng nói có người đo ra cây đá rớt xuống lúc một giờ.
Sa im lặng.
– Là chị đo hả? – Toại hỏi, nhỏ.
– Ừ.
Nó nhìn cô một lúc lâu. Sóng vỗ vào chân kè, nước bắn lên ống quần cả hai người.
– Chị đo sai rồi chị Sa. – Nó nói, không giận, gần như mệt mỏi. – Em vô là cây đá nằm đó. Em không đẩy cây đá nào hết. Em không lên gác. Em sợ cái gác đó từ hồi nhỏ, chú hay doạ là trên đó có ma.
– Chị tin em.
– Chị tin em mà chị đo ra một giờ. – Toại cười, cái cười như ho. – Chị tin em kiểu gì vậy?
Sa không trả lời được. Cô nhìn mặt biển chiều nay lặng như tờ, ghe du lịch chạy ra chạy vô cửa biển, có chiếc gắn loa mở nhạc vang tới tận bờ kè.
– Chị đo một cây đá khuôn cũ, năm chục ký, – cô nói. – Chú Nghĩa nói cây trên cân là cây khuyến mãi, cũng khuôn cũ. Nếu đúng vậy thì phép tính ra một giờ. Nếu không đúng vậy…
– Thì sao?
– Thì chị chưa biết.
Toại nhìn cô. Rồi nó nhảy xuống bãi cát, phủi quần.
– Ông Hiển còn hỏi em một chuyện lạ lắm, – nó nói. – Hỏi em hồi năm 2019 vựa có chiếc xe tải xanh. Hỏi em chiếc đó ai chạy, chạy đi đâu, bán hồi nào. Em nói em không nhớ, hồi đó xe có tài xế riêng chạy, em đâu có đụng tới. – Nó nhíu mày. – Chiếc xe đó thì dính gì tới chú em chết?
– Chị không biết, – Sa nói.
Đó là lần thứ hai trong ngày cô nói câu đó. Cả hai lần đều không hẳn là dối.
Toại đứng đó một lúc, tay nhét túi quần, rồi nói, không nhìn cô:
– Chị Sa. Lúc ở trong đó, em nghĩ hoài. Em nói láo với công an một lần, em vứt cái điện thoại, em bỏ trốn. Em làm đủ thứ để người ta nghĩ em làm. – Nó đá một hòn sỏi xuống nước. – Mà người duy nhất tin em là chị. Chị tin em, rồi chị đo một cây đá đem em vô trại. Em không biết là nên giận chị hay cảm ơn chị.
– Đừng cảm ơn, – Sa nói. – Chưa tới lúc.
Toại gật đầu, rồi đi, cái dáng vai to lom khom bước trên bãi cát, khuất sau dãy vựa.
Tối hôm đó má cô ngủ sớm. Hai nồi don ở chợ ngày lễ bán hết sạch, bà về tới nhà là nằm vật ra giường, mười phút sau đã nghe tiếng thở đều. Sa ngồi một mình ở nhà trước, không ngủ được.
Mười một giờ, cô xuống bếp pha trà. Hũ trà trên kệ đã hết. Cô nhớ má hay cất trà mới trên cái kệ gỗ cao nhất, sát mái, chỗ để những thứ bà không muốn chuột đụng tới: gói bột ngọt, mấy gói nhang, hũ đường phèn, mấy hộp mứt gừng cúng Tết. Sa kéo cái ghế đẩu lại, đứng lên, với tay.
Gói trà nằm ở góc ngoài. Nhưng tay cô chạm vào một vật khác trước, lạnh và cứng. Một cái hộp bánh quy bằng thiếc, loại tròn, nắp màu xanh đã tróc sơn lốm đốm, nằm ở góc trong cùng, sau hũ đường phèn.
Cô biết cái hộp này. Hồi cô còn nhỏ, nó đựng bánh quy bơ người ta biếu nhà cô dịp Tết, hai chị em họ tranh nhau từng cái. Ăn hết bánh, má cô giữ cái hộp để đựng kim chỉ. Rồi một ngày nào đó nó biến mất khỏi cái bàn may, cô không để ý.
Cô nhấc cái hộp xuống. Nó không kêu lách cách như hộp kim chỉ.
Cô đứng trên ghế đẩu, trong ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bếp, mở nắp hộp ra.
Không có kim chỉ. Hộp thiếc đầy phong bì. Những phong bì trắng cỡ nhỏ, loại bán ở tiệm tạp hoá đầu chợ, xếp đứng thành hàng sát nhau như những cây đá trên gác, cái nào cũng đã bóc, cái nào cũng rỗng. Cô rút thử một cái. Ngoài bìa không có tên người gửi. Chỉ có một mảnh giấy nhỏ dán ở góc, chữ đánh máy, nét mực tím đã phai:
"Gửi chị Lài."
Sa rút cái thứ hai. Cái thứ ba. Cái nào cũng y hệt. Cùng một cỡ phong bì, cùng một mảnh giấy dán, cùng một dòng chữ đánh máy, cuối dòng có một dấu chấm nhỏ tròn xoe, như một hạt muối.
Cô đếm. Đếm tới hai chục thì tay cô run tới mức làm rơi mấy cái xuống nền bếp. Cô leo xuống, nhặt lên, ngồi bệt dưới nền gạch, đổ hết cái hộp ra trước mặt.
Bảy mươi bảy cái phong bì.
Trong buồng, má cô trở mình, tiếng giường tre kẽo kẹt. Rồi im.
— Hết chương 20 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe