Chương 36: Quả cân về ô cũ
Cái túi nilông niêm phong nằm trên mặt bàn gỗ, giữa hai mẹ con, và không ai đưa tay ra mở.
Một buổi sáng tháng Chạp. Gió bấc thổi từ ngoài biển vào, lạnh, khô, rít qua mấy khe ngói, làm ngọn đèn dầu trên bàn thờ chao đi chao lại. Cây khế trước sân rụng gần hết lá. Ngoài bến, sóng bạc đầu vỗ vào chân kè từ đêm qua, ghe lớn nằm bờ, chỉ vài chiếc ghe nhỏ liều đi gần.
Sa mới về từ trên tỉnh. Cô đi xe khách từ năm giờ sáng, tới cơ quan thi hành án lúc tám giờ, ngồi chờ ở cái băng ghế dài trong hành lang một tiếng rưỡi, rồi được gọi vào một căn phòng nhỏ. Một cán bộ trẻ đeo kính đọc cho cô nghe quyết định, đưa cô ký vào biên bản giao nhận, rồi đặt cái túi nilông lên bàn. Trên túi có dán một nhãn giấy trắng, ghi số vật chứng, ghi tên hai vụ án. Cô ký, cầm cái túi bỏ vào giỏ xách, cảm ơn, đi ra, lên xe khách về. Suốt bốn chục cây số, cô ôm cái giỏ xách vào lòng, không mở.
Bây giờ nó nằm trên bàn.
Má cô nhìn nó, hai tay đặt trên đùi.
– Mở đi con, – bà nói.
Sa không mở ngay. Cô nhìn cái túi, và cô nhớ lại.
Phiên toà sơ thẩm xử vào một ngày thứ Năm cuối tháng Mười một, trời mưa lâm râm. Phòng xử chật người. Người ở bến Cửa Nậy đi hai chuyến xe khách lên tỉnh, ngồi kín mấy hàng ghế phía sau: bà Năm từ Đà Nẵng vô, Toại, Lượm, chị Hến, vợ chồng anh Khương, ông Chín Lưới, cả ông Út Lùn. Ông Luận ngồi ở hàng ghế dành cho người làm chứng, cạnh má cô, cạnh cô, mặc bộ com lê cũ màu xám rộng thùng thình, cái mũ vải để trên đùi.
Chú Nghĩa đứng ở vành móng ngựa. Chú gầy đi nhiều, tóc bạc trắng cắt sát, bàn tay trái còn một vết sẹo dài từ lòng bàn tay lên cổ tay, đỏ hồng. Chú không nhìn xuống hàng ghế phía sau. Chú trả lời mọi câu hỏi của chủ toạ bằng giọng trầm, chậm, rõ, không chối câu nào, không thêm câu nào. Khi luật sư của chú nói về tình tiết giảm nhẹ, chú cúi đầu.
Sa được gọi lên làm chứng. Cô kể lại đúng những gì cô đã thấy, đã đo, đã cân. Cái màn hình 46.5. Hai đường rãnh trên hông cây đá. Cây đá khuôn cũ năm chục ký không một. Cây đá khuôn mới năm mươi hai ký tư. Ba vòng chỉ đỏ. Cô nói bằng giọng bằng phẳng, như đọc số trên màn hình. Chỉ một lần, khi vị hội thẩm hỏi cô làm sao biết được cây đá nặng bao nhiêu, cô ngừng lại.
– Tôi cân, – cô nói. – Ở bến tôi người ta gọi là cân tay. Có người dạy tôi từ năm tôi mười tuổi.
Lúc đó, lần duy nhất trong cả buổi xử, chú Nghĩa quay đầu lại nhìn cô. Một cái nhìn rất ngắn. Rồi chú quay đi.
Ông Luận lên sau cô. Ông đứng thẳng lưng trước bục, hai tay nắm vành mũ, bàn tay trái run nhẹ mà giọng không run. Ông nói về tám tấm ảnh, cái biển số sau cong vào ở tầm cao ngang yên, cái nón bảo hiểm có vết lõm sau gáy. Ông nói chậm, từng chữ, như đặt quả cân lên đĩa. Khi luật sư hỏi ông có chắc không, ông đáp: "Tui chỉ nói cái tui thấy. Cái tui không thấy thì người ta đã giám định." Rồi ông về chỗ ngồi, đặt cái mũ lên đùi, thở ra một hơi dài như người vừa leo hết một con dốc.
Lời nói sau cùng của bị cáo, chú chỉ nói mấy câu. Chú xin được bồi thường cho gia đình anh Kiều Văn Hảo, gia đình anh Hứa Thanh Bền, những người mua đá bị cân thiếu. Chú xin lỗi anh Hứa Minh Toại, người đã bị nghi oan vì chú. Chú không xin toà giảm án. Chú nói, câu cuối cùng, nhìn thẳng lên bục:
– Tui không xin gì cho tui. Tui chỉ xin toà cho gia đình anh Hảo nhận lại cái quả cân.
Toà tuyên án lúc gần năm giờ chiều. Sa nghe rõ từng con số, mà về tới nhà thì không nhớ được con số nào. Cô chỉ nhớ dòng cuối cùng trong phần xử lý vật chứng: một quả cân bằng đồng, khối lượng danh định một kilôgam, đáy có khắc chữ K.V.H., trả lại cho gia đình bị hại.
Chú Nghĩa không kháng cáo. Không ai kháng nghị. Bản án có hiệu lực. Rồi giấy tờ đi từ cơ quan này sang cơ quan khác, như nước chảy qua những cái rãnh dưới nền vựa, chậm mà không dừng. Và sáng nay, nó về đây.
Sa xé mép túi niêm phong.
Quả cân nằm trong lòng bàn tay cô, lạnh, nặng, vàng xỉn. Khối đồng hình trụ, vai tròn, cái núm cầm trên đỉnh. Trên mép vai, vết mẻ nhỏ hình lưỡi liềm. Cô lật đáy lên. Ba chữ cái khắc bằng mũi đột, nét nghiêng nghiêng: K.V.H.
Cô không cần đặt nó lên cân. Cô nhắm mắt lại.
– Một ký, – cô nói.
Má cô không hỏi cô có chắc không. Bà biết.
Sa mở mắt. Cô đứng dậy, đi tới bàn thờ cha. Cái hộp gỗ nhỏ lót nhung xanh vẫn nằm đó, dưới tấm ảnh cha cô mặc áo sơ mi trắng cười hiền. Bên cạnh là tờ giấy mượn tiền ố vàng có hai chữ in hoa, và tờ văn bản có con dấu đỏ. Cô mở nắp hộp. Mười một quả cân đồng nhỏ dần nằm ngay ngắn như hàng răng. Ô góc phải, ô lớn nhất, trống, nhung trong ô in một vòng tròn sẫm màu.
Cô đặt quả cân vào.
Nó trượt xuống, chạm đáy ô, nằm gọn trong cái vòng tròn sẫm màu đó, vừa khít, như chưa từng rời đi. Vết mẻ lưỡi liềm quay ra phía ngoài, đúng như hồi cô tám tuổi, lần đầu tiên cha cô đặt nó lại vào ô sau khi cô làm rớt, rồi xoa đầu cô, nói một câu.
"Mẻ ở vai thì không sao. Đáy còn nguyên là còn đúng."
Má cô đã đứng sau lưng cô từ lúc nào. Bà nhìn cái hộp gỗ, mười hai ô đủ mười hai quả cân. Rồi bà đưa tay ra, đặt lên cái nắp hộp đang mở. Sa nhớ cái buổi sáng Chủ nhật tháng Tư, bà đã đóng sập cái nắp này lại, tiếng gỗ chạm gỗ khô khốc, "Cất đi."
Lần này bà đóng nó lại rất chậm, rất nhẹ, như người ta kéo chăn cho một đứa nhỏ đang ngủ. Hai cái bản lề đồng kêu khẽ một tiếng. Rồi im.
– Rồi, – má cô nói.
Chỉ vậy. Rồi bà đi xuống bếp, bắc nồi nước, bóc don.
Sa đứng lại trước bàn thờ. Cô lấy điện thoại ra, gõ cho bà Năm một dòng, như đã hứa hôm giỗ cha: "Quả cân về ô cũ rồi bà." Cô ngập ngừng một lúc, rồi gõ thêm một dấu chấm ở cuối câu, và gửi.
Một phút sau, bà Năm trả lời. Một chữ, có dấu, có chấm.
"Ừ."
Chiều hôm đó, hai mẹ con ra nghĩa địa.
Đồi cát phía nam bến lộng gió. Rừng dương sau lưng reo vù vù như có ai thổi vào một cái tù và lớn. Mộ ở đây quay mặt ra biển, mộ nào cũng sơn trắng, cỏ cát mọc lún phún quanh chân. Mộ cha cô nằm ở hàng giữa, chỗ người ta chôn năm 2019, trước mộ có một cái lư hương nhỏ bằng sành đã mẻ miệng.
Má cô quỳ xuống, nhổ cỏ quanh mộ bằng tay, từng nhúm một. Sa cắm nhang. Gió thổi tạt khói nhang đi, que nhang cháy đỏ rực nhanh hơn ngày thường. Má cô không khấn thành tiếng. Bà chỉ ngồi đó, một tay đặt lên thành mộ, nhìn ra biển xám, sóng bạc đầu nối nhau chạy vào bờ.
Sa đứng một lúc, rồi đi lên hàng trên cùng.
Mộ ông Năm Bền nằm ở chỗ cao nhất đồi, gần mộ cha mẹ ông. Xi măng đã khô, đã trắng, đã có tấm bia đá khắc tên và năm sinh năm mất. Trước mộ có một bát nhang còn mấy chân nhang mới. Có lẽ Toại vừa ra hồi sáng. Từ chỗ này nhìn xuống thấy được cả cửa biển, thấy được dãy vựa, thấy được cái mái tôn của vựa Toại nằm giữa dãy, có tấm bảng chữ đỏ.
Sa đứng trước mộ ông một lúc lâu. Cô không biết nói gì. Cô không tha thứ cho ông, cũng không giận ông nữa. Ông đã đứng ở khúc cua Gò Dương, đã cúi xuống nhặt một quả cân rồi đi về. Ông đã giữ nó bảy năm. Rồi khi biết mình sắp chết, ông viết lên một mảnh phiếu cân bằng chữ in hoa không dấu rằng ông sẽ trả tận tay. Ông không kịp. Nhưng nó đã về.
Cô rút một cây nhang trong bó, châm lửa, cắm vào bát nhang của ông. Rồi cô đi xuống.
Má cô đứng dưới hàng giữa nhìn lên, thấy hết. Bà không hỏi.
Ba giờ rưỡi sáng hôm sau, gió bấc đã dịu. Sa dắt xe ra khỏi hẻm, thùng đồ nghề buộc sau yên, trong thùng đồ có cái hộp gỗ nhỏ lót nhung xanh. Má cô đã dậy từ hai giờ, đang đổ don vào nồi. Bà đứng ở cửa bếp, nhìn con gái nổ máy, gọi với ra như mọi sáng:
– Đội nón vô. Đi chậm thôi.
Chợ cá Cửa Nậy còn tối. Đèn đường bờ kè vàng vọt. Mấy chiếc xe ba gác chở đá của lò Đức Nghĩa đã đậu ở đầu chợ, anh Dũng Râu ngồi trên thùng xe hút thuốc, thấy cô thì giơ tay chào. Ở dãy vựa, cửa cuốn vựa Toại đã kéo lên, đèn neon sáng trắng cả hai dãy. Bà Bảy Ốc ngồi chồm hổm thổi bếp than ở quán cà phê cóc.
Sa dựng xe ở sạp. Tấm tôn mặt trước sơn xanh lá, chữ trắng thằng Hên kẻ, đã bắt đầu bạc dưới nắng gió mấy tháng. Bên cạnh sạp, cái cân đối chứng của chợ đứng chờ, màn hình tối.
Cô bật nó lên. Màn hình xanh sáng, nhảy về 0.000.
Cô mở cái hộp gỗ, lấy quả cân đồng một ký ra, cầm nó trên tay một lúc. Rồi cô đặt nó lên chính giữa đĩa cân, cái đĩa thép mà chú Nghĩa đã kê lên đe, gõ từng nhát búa nhỏ cho thẳng lại.
Con số xanh nhảy một cái, rung rung, rồi đứng yên.
1.000.
Sa chụp ảnh màn hình, như cha cô dạy. Rồi cô nhấc quả cân ra, đặt nó lại vào ô của nó, đóng nắp hộp, cất vào thùng đồ nghề.
Ngoài cửa biển, tiếng máy ghe đầu tiên vọng vào, đục, đều, quen thuộc như nhịp thở của bến. Đèn ghe chấm chấm trên mặt nước đen. Từ đầu bến, những ngọn đèn pin bắt đầu lố nhố đi tới.
Sa lật tấm tôn mặt sạp lên, chống cây sào, và ngồi xuống chờ người đầu tiên đem cân tới.
— Hết —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe