Chương 8: Trạm Phao Ngoài
– Cho tôi tới trạm. – Ông Khiêm nói.
Cô Xuyến vẫn không quay lại. Trong khung kính tối, cô thấy bóng ông đứng sau ghế cô, một tay níu quai vách, tóc bạc dựng lên vì không trọng lực.
– Thằng Toản ăn cơm trên thùng phân trùn mười tám ngày rồi, anh Khiêm.
– Tôi biết.
– Vậy vì sao?
Ông Khiêm im một lúc.
– Nếu tôi nói bây giờ, Ban điều hành sẽ lệnh cô cách chức tôi trước đợt hãm. – Ông nói. – Cô chưa hãm vào trạm Phao Ngoài lần nào. Tôi hãm mười một lần. Vành băng quanh trạm năm nay dày hơn mọi năm, bản đồ chưa cập nhật.
– Tôi hãm được.
– Tôi biết cô hãm được. – Ông nói. – Tôi muốn hãm lần cuối.
Cô Xuyến quay ghế lại. Lần đầu tiên trong mười năm cô nhìn ông như nhìn một ông già, không phải như nhìn thầy. Một ông già sáu mươi mốt tuổi, ho, ngực áo ngủ còn bóng dầu tràm, xin một điều mà ông biết mình không có quyền xin.
– Tới lúc cập trạm. – Cô nói. – Không hơn một giờ.
– Không hơn một giờ.
Cô quay lại màn hình, soạn tin báo về Ban điều hành: "Đã mở nhật ký niêm phong. Sẽ báo cáo đầy đủ trước tổ lái khi cập trạm Phao Ngoài." Cô gửi. Rồi cô ngồi đó, ông đứng đó, không ai đi, cho tới khi đèn buồng lái chuyển từ màu đêm sang màu sáng.
Đót biết mình sắp phải đi khi tàu bắt đầu hãm.
Ngày hai mươi hai, lò đốt lại. Ở dưới vòng quay, nó không nghe tiếng máy, nhưng nó thấy ly nước trên bàn bếp hơi nghiêng mặt nước về một phía, như có ai lấy tay chống lên mép bàn. Đi dọc hành lang, nó thấy mình hơi bị đẩy về phía đuôi tàu. Chú Toản nói đó là lực hãm, nhẹ thôi, chừng một phần trăm sức nặng, đủ để mấy hạt bụi trên sàn lăn về một góc. Chú nói bốn ngày nữa là tới trạm.
Bốn ngày.
Nó bắt đầu chuẩn bị. Đồ của nó không có gì nhiều. Ba bộ áo bay cô Tuyền cắt ngắn. Một cái lược thưa của anh Mẫn. Đôi vớ của chú Toản, dài tới đầu gối nó. Cái áo khoác ô liu nó không xếp vào túi. Nó biết cái áo không phải của nó.
Rồi nó làm quà.
Ngoại nó đan rổ bằng tre chẻ. Ở đây không có tre, chỉ có những sợi dây nhựa mềm màu xanh lá, loại cô Dung dùng để buộc cành cây giống vào cọc. Cô Dung có cả cuộn, dư dùng tới Cồn Xanh. Đót xin một đoạn dài. Cô Dung nhìn nó, rồi cắt cho nó năm sải tay, không hỏi để làm gì.
Đót ngồi trong cái hốc ngủ sau tấm rèm, đan. Ngoại nó dạy nó đan con cào cào từ lá dừa hồi nó năm tuổi, đi chợ phiên ngoại bán rổ, nó ngồi đan cào cào bán năm đồng một con. Sợi dây nhựa cứng hơn lá dừa, trơn hơn, phải kéo thật căng mới giữ được nếp. Con đầu tiên méo, cái chân dài cái chân ngắn. Con thứ hai được hơn. Tới con thứ sáu thì nó vừa ý.
Sáu con. Một con cho cô Tuyền, một con cho chú Toản, một con cho chú Mẫn, một con cho cô Dung, một con cho cô Xuyến. Một con cho ông.
Nó nghĩ một lúc, rồi đan thêm một con nữa, nhỏ xíu, bằng đốt ngón tay. Nó không biết đưa cho chú Đụn bằng cách nào. Nó đặt con cào cào nhỏ lên cái loa ở góc bếp, chỗ nó hay ngước lên khi nói chuyện với chú.
– Chú Đụn.
– Dạ, Đót.
– Con để cho chú một con cào cào trên cái loa trong bếp. Chú thấy hông?
– Dạ, bếp không có camera. Đụn không thấy được. – Đụn ngừng một nhịp. – Nhưng Đụn biết nó ở đó. Cảm ơn Đót.
Ngày hai mươi lăm, nó xuống vườn ươm, tới khay số hai.
Bốn mươi cây lúa của nó cao hơn hai gang tay rồi, lá xanh đậm, cứng, mép lá hơi tím ở chân. Cây lúa rẫy, lên thẳng, không ngả như lúa ruộng. Nó áp mặt vào lớp kính, nhìn từng cây một, đếm. Bốn mươi. Không thiếu cây nào.
Cô Dung đang làm việc ở bàn bên cạnh, ghi chép cái gì đó vào bảng. Đót đứng một lúc lâu rồi mới nói.
– Cô Dung.
– Ừ.
– Cô cho con lấy cái ống tre theo được hông cô?
Cô Dung đặt cây bút xuống. Cô không nhìn Đót ngay. Cô nhìn khay lúa.
– Không được, cháu. Mẫu chưa qua kiểm dịch thì không ra khỏi tàu được. Ít nhất ba mươi ngày theo dõi cây thử. Mới hai mươi ngày.
– Cây thử đâu có bệnh. Cô nói hổng có nấm mà.
– Cô nói chưa thấy nấm. Chưa thấy với không có là hai chuyện khác nhau. – Cô Dung nói, giọng như giảng bài. Rồi cô thấy mặt Đót, và giọng cô nhỏ lại. – Cô sẽ giữ nó. Kiểm dịch xong, cô sẽ gửi nó theo chuyến tàu nào về nhà gần nhất, có niêm, có tên cháu.
– Gửi về nhà tạm trú hả cô?
Cô Dung không trả lời.
– Hổng phải của con. – Đót nói. Nó không định khóc. Nó đã định từ hôm qua là sẽ không khóc. – Đó là của má con. Ngoại con nói đem cho má. Ngoại nói lúc ngoại nằm bệnh viện. Ngoại nói Ré Mây phải về với má. Ngoại nói vậy mà.
Giọng nó vỡ ra ở chữ cuối. Nó quay mặt vào lớp kính, áp trán lên, nhìn bốn mươi cây lúa nhòe đi.
Nó nghe sau lưng tiếng cô Dung đứng dậy, tiếng bước chân lại gần. Rồi dừng. Cô Dung không ôm nó. Cô đứng đó, cách một bước.
– Ngoại cháu nói vậy hả. – Cô Dung nói. Không phải câu hỏi.
– Dạ.
– Má cháu có nhắn gì về cái ống không?
– Con hổng biết. Ngoại hổng nói.
Cô Dung đứng im thêm một lúc. Rồi cô nói, rất nhỏ, như nói với khay lúa:
– Cô sẽ giữ nó như cô giữ hạt giống của cô. Cô hứa.
Đót gật, trán vẫn áp vào kính. Nó không biết hạt giống của cô Dung quý cỡ nào. Nhưng nó thấy cách cô cầm cái kẹp gắp hôm đếm hạt, và nó nghĩ chắc là quý.
Ngày hai mươi sáu, ba giờ chiều, tàu Bồ Hai cập trạm Phao Ngoài.
Đót được lên buồng lái xem, vì cô Tuyền nói con bé nên thấy chỗ nó sắp ở. Nó thắt dây trên cái ghế thứ ba. Ông Khiêm ngồi ghế thuyền trưởng, hai tay trên cần lái. Cô Xuyến ngồi ghế hoa tiêu, đọc số.
Trạm Phao Ngoài không giống cái gì Đót từng thấy. Nó là một hòn đá đen, xù xì, to bằng một quả đồi, có một vòng sáng bọc quanh. Lại gần mới thấy vòng sáng là hàng trăm khối băng trắng, to như những căn nhà, xếp thành vành, nối với nhau bằng dây cáp, lấp lánh dưới ánh đèn pha. Trên hòn đá có một cụm nhà hình hộp, sơn cam, đèn vàng hắt ra từ mấy ô cửa nhỏ. Đậu sát cụm nhà là một con tàu ngắn, mập, sơn đỏ đã tróc lở, mũi có hai cái càng to như càng cua.
– Bìm Bịp. – Cô Xuyến nói, không nhìn Đót.
Đót nhìn con tàu đỏ. Nó trông như một con cua già.
Ông Khiêm không nói gì suốt đợt cập trạm. Tay ông nhẹ trên cần lái. Mấy lần, cô Xuyến đọc một con số, ông lắc đầu, chỉnh tay theo hướng khác, rồi một giây sau, một khối băng lớn trôi lững lờ qua đúng chỗ tàu vừa định đi. Cô Xuyến nhìn ông, không nói gì, rồi cúi xuống ghi.
Tàu chạm cầu cảng nhẹ như cái lá rơi xuống mặt ao. Một tiếng "cộp" nhỏ dội qua vách. Rồi im.
– Dạ, cập trạm hoàn tất. – Đụn nói. – Ba giờ hai mươi hai phút chiều.
Ông Khiêm buông cần lái. Ông ngồi im trong ghế, hai bàn tay đặt lên đùi, nhìn ra trạm.
Cô Xuyến tháo dây ghế, quay sang ông. Đót thấy cô nhìn đồng hồ cổ tay.
– Ba giờ hai mươi hai. – Cô Xuyến nói.
Ông Khiêm gật. Ông không đứng dậy.
Một giọng đàn bà sang sảng vang lên trong loa liên lạc, to tới nỗi Đót giật mình.
– Bồ Hai ơi! Trạm Phao Ngoài đây! Mấy đứa tới trễ ba phút, bà tính phạt nấu cơm đó nghe! Có rau răm trồng nè, có trứng gà thật nè, mở cửa ra đi con!
Bà Tống Thị Mùi sáu mươi ba tuổi, giữ trạm Phao Ngoài mười bốn năm, và bà ôm Đót trước khi Đót kịp chào.
Bà to, tròn, tóc bạc cột củ hành, mặc cái áo bay vá hai miếng ở khuỷu. Người bà có mùi rau răm và mùi dầu máy. Trạm của bà nhỏ, ấm, chật, ở đâu cũng có chậu rau: rau răm, húng quế, ngò gai, một bụi ớt có ba trái đỏ. Trọng lực ở đây do hòn đá, nhẹ tới mức đi phải mang giày đế từ. Bà dẫn Đót đi một vòng, chỉ chỗ ngủ, chỉ chỗ tắm, chỉ cái ô kính nhìn ra vành băng.
– Con ở với bà vài bữa, chờ thằng Bổng nó kéo băng xong. – Bà nói. – Rồi nó đưa con về. Năm tháng thôi mà, nhanh như cái chớp.
Thuyền trưởng tàu Bìm Bịp, ông Giang Văn Bổng, đứng dựa cửa, khoanh tay, nhìn Đót từ đầu tới chân. Ông năm mươi tuổi, râu ria lởm chởm, mặt đỏ như cái tàu của ông.
– Nhỏ quá. – Ông nói với không ai cả.
Đêm đó, Đót ngủ trên tàu Bồ Hai lần cuối, trong cái hốc sau tấm rèm. Nó đếm khấc bằng ngón tay tới sáu mươi ba, rồi đếm lại từ đầu, rồi lại từ đầu. Khuya, nó nghe tiếng chân anh Mẫn ngoài bếp, rồi tiếng anh đứng ngoài tấm rèm một lúc lâu, không nói gì, rồi đi về buồng.
Sáng ngày hai mươi bảy, chín giờ, cả tổ đứng ở cửa khoá khí nối với trạm.
Đót xách cái túi vải nhỏ. Trong túi có ba bộ đồ, cái lược, đôi vớ. Trong túi áo có sáu con cào cào bằng dây nhựa xanh.
Nó đưa cho từng người. Cô Tuyền cầm con cào cào, rồi kéo Đót vào lòng, ôm chặt tới nỗi Đót nghe tim cô đập. Anh Mẫn cầm con cào cào, xoay xoay, nói "cái chân này dài hơn cái chân kia", rồi bỏ vào túi áo ngực, cài nút lại. Chú Toản không nói được gì. Chú cầm con cào cào bằng hai tay như cầm cái gì dễ vỡ, mắt đỏ hoe. Cô Dung cầm con cào cào, nhìn nó rất kỹ, như nhìn một hạt giống lạ. Cô Xuyến nhận con cào cào, gật đầu một cái, ngắn, không cười.
Còn một con. Đót quay lại tìm ông.
Ông Khiêm đứng sau cùng, sát vách, xa cửa khoá khí nhất. Ông mặc áo bay thuyền trưởng, cài đủ nút. Đót đi tới, chìa con cào cào. Ông nhìn nó, không đưa tay ra.
– Ông cầm đi ông. – Đót nói.
Ông cầm. Bàn tay ông run, Đót thấy rõ. Ông không nói một chữ.
Bà Mùi đứng ở đầu bên kia cửa khoá khí, giơ tay vẫy. Cô Tuyền dắt Đót tới ngưỡng cửa. Đót bước qua một chân. Cái vạch vàng sơn dưới sàn chạy ngang giữa hai đế giày của nó: một chân ở tàu Bồ Hai, một chân ở trạm.
– Khoan.
Cô Xuyến nói. Không to, nhưng mọi người đều quay lại.
Cô Xuyến không nhìn Đót. Cô nhìn qua vai mọi người, về phía bức vách nơi ông Khiêm đang đứng, con cào cào xanh nằm trong lòng bàn tay ông.
– Anh Khiêm. – Cô nói. – Mình hẹn một giờ sau khi cập trạm. Giờ là gần mười tám tiếng rồi. Anh tự nói, hay để tôi đọc?
— Hết chương 8 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe