Chương 5: Nước lên lần thứ nhất
– Dạ, nước lên.
Đụn nói câu đó lúc mười một giờ bốn mươi trưa ngày thứ sáu, bằng loa chung của cả vòng quay, và Đót thấy mọi người trong bếp cùng ngừng tay một lúc. Cô Tuyền đặt con dao xuống thớt. Anh Mẫn tắt cái máy xay. Chú Toản đứng im trước nồi canh, cái muỗng giơ lên giữa chừng.
– Nước gì? – Đót hỏi nhỏ.
– Cửa Ngàn mở. – Cô Tuyền nói. – Cứ hai mươi ba ngày nó mở một lần, chừng năm sáu tiếng. Lúc đó tin nhắn từ Cồn Xanh mới lọt qua được. Mình ở xa cửa lắm, nhưng cái phao bên này nhận được tin thì bắn về cho mình liền.
Đót đứng dậy khỏi ghế.
– Có thư của má con hông?
Cô Tuyền không trả lời ngay. Cô nhìn anh Mẫn. Anh Mẫn nhìn xuống cái máy xay.
– Má con chưa biết con ở đây. – Cô Tuyền nói, chậm. – Ban điều hành gửi tin cho má con hôm qua. Tin đó phải đợi tới bữa nay, lúc nước lên, mới đi qua cửa được. Má con nhận được rồi trả lời, thì thư trả lời phải đợi con nước sau mới về.
– Con nước sau là chừng nào?
– Hai mươi ba ngày nữa.
Đót ngồi xuống lại. Nó đếm trên ngón tay. Hai mươi ba ngày nữa là ngày hai mươi chín. Ngày hai mươi sáu là tới trạm. Ngày hai mươi sáu nó đã ở trên tàu kéo rồi. Thư của má về tàu Bồ Hai, còn nó ở tàu khác. Nó không nói ra. Nó gấp mấy ngón tay đã đếm lại, giấu dưới gầm bàn.
Tin từ Cồn Xanh về tới lúc mười hai giờ mười. Không phải thư. Là báo cáo của làng Bến Mới gửi Quỹ Giống, Quỹ chuyển cho tàu một bản. Ông Khiêm từ buồng lái xuống, cô Xuyến cũng xuống, cô Dung từ vườn ươm lên, tay còn đeo găng. Cả tổ ngồi quanh bàn. Không ai đuổi Đót về hốc ngủ.
Đụn đọc. Giọng nó đều, rõ, không nhanh không chậm.
Làng Bến Mới, hai trăm lẻ chín người. Khẩu phần từ ngày mười lăm tháng Sáu cắt còn hai phần ba. Vụ lúa thứ hai trên bãi bồi sông Mạ hỏng bảy mươi phần trăm vì bệnh tro. Từ đầu tháng Sáu, bệnh tro bắt đầu thấy trên lá khoai lang ở ruộng cao. Bà Ngô Thị Thơm, tám mươi mốt tuổi, mất ngày hai mươi tháng Sáu vì viêm phổi; làng đã chôn bà ở đồi Bông Gòn. Kho lương còn đủ tới khoảng cuối tháng Một năm sau nếu giữ khẩu phần hiện tại. Làng chờ tàu Bồ Hai.
Rồi Đụn nói:
– Phần báo cáo nông nghiệp, người viết: kỹ sư Ôn Thị Mai Hiên, trưởng nhóm giống.
Đót ngồi thẳng lên như có ai kéo tóc.
Đụn đọc tiếp. Những chữ khó: tỷ lệ nhiễm, mật độ bào tử, chiều cao cây, ô thử. Đót không hiểu phần lớn. Nó chỉ nghe được rằng má nó đã đi đo từng ruộng một, đã đếm, đã ghi. Ở đoạn cuối, má viết: "Nhóm giống đề nghị Quỹ xem xét lại khả năng nguồn bệnh không phải bản địa. Đề nghị đã gửi lần thứ ba." Đót không hiểu chữ "bản địa". Nó thấy cô Dung nhíu mày.
– Hết báo cáo. – Đụn nói.
– Chú Đụn. – Đót nói. – Chú đọc lại khúc của má con được hông?
Đụn im một nhịp.
– Dạ được.
Đụn đọc lại. Từ "Phần báo cáo nông nghiệp, người viết" cho tới "đã gửi lần thứ ba". Anh Mẫn đứng dậy đi pha trà. Ông Khiêm ngồi im, hai tay đan trên bàn. Cô Xuyến trở lên buồng lái.
– Chú đọc lại nữa được hông?
– Dạ được.
Lần thứ ba, cô Dung đứng dậy, kéo găng tay ra, nói "Chị xuống vườn ươm", rồi đi. Lần thứ tư, trong bếp chỉ còn cô Tuyền và Đót. Lần thứ năm, cô Tuyền lấy cái kéo y tế trong túi áo ra.
– Đót, tóc con bết quá. Ngồi đây cô cắt cho, chịu không? Đụn đọc tiếp đi.
Đót ngồi lên ghế, quay lưng lại. Cô Tuyền choàng một tấm khăn quanh cổ nó. Tiếng kéo lách cách sau gáy. Đụn đọc lần thứ năm. Đót nhắm mắt nghe. Nó không nghe chữ nữa. Nó nghe tên má, nghe "trưởng nhóm giống", và nghĩ: má nó lớn lắm, má nó coi cả nhóm.
– Má con làm nghề giống như cô Dung. – Đót nói, khi Đụn đọc xong lần thứ năm.
– Ừ. Má con giỏi. Cô nghe nói người ta chọn má con đi Bồ Một vì má con giỏi nhất khoá.
– Ngoại con nói má con giỏi tại má con lì. – Đót nói. – Hồi nhỏ má con hổng chịu học ở trường làng, má con đòi lên Vân Khẩu học. Ngoại hổng có tiền. Má con đi bán bắp nướng ở bến xe ba năm.
Cô Tuyền cắt một lọn tóc ở thái dương, tóc rơi xuống tấm khăn, rơi chậm, nhẹ, như lông chim.
– Còn ba con?
– Ba con mất hồi con hai tuổi. Ghe ba con chìm ngoài cửa biển. Con hổng nhớ ba. – Đót nói, giọng của người đã nói câu này nhiều lần. – Con họ Thạch theo ba. Má con họ Ôn theo ngoại.
– Theo ngoại? Sao không theo ông ngoại?
– Má con hổng có ba. – Đót nói. – Ngoại nói ông ngoại đi xa từ hồi má con chưa đẻ.
– Đi đâu?
– Ngoại hổng nói. Ngoại nói đi xa lắm. Xa hơn trời.
Tiếng kéo ngừng một chút sau gáy Đót, rồi lách cách trở lại.
– Cô Tuyền.
– Hử.
– Cô biết nhà tạm trú hông?
Cô Tuyền im. Rồi cô nói:
– Cô biết. Hồi mới ra trường, cô làm bác sĩ ở một nhà tạm trú hai năm. Không phải Ven Đê, một chỗ khác, ở Cảng Mới. Nhưng chắc cũng giống.
– Ở đó con nít có khóc ban đêm hông?
– Có.
– Ở Ven Đê cũng khóc. – Đót nói. – Đứa giường dưới con khóc đêm nào cũng khóc. Con nói nó đếm cái gì đi rồi ngủ. Nó hổng có cái gì để đếm.
Cô Tuyền không nói gì nữa. Cô cắt xong, chải tóc cho Đót bằng mấy ngón tay, phủi cổ áo. Đót sờ lên đầu. Tóc ngắn tới tai, gọn, nhẹ hều.
– Đẹp hông cô?
– Đẹp. – Cô Tuyền nói. Giọng cô hơi khác. – Đi soi gương đi.
Chiều đó, ông Khiêm dẫn Đót lên buồng lái.
Lên buồng lái phải trèo cái thang trong nan hoa, từ vòng quay vào trục giữa. Càng trèo lên, người càng nhẹ. Ở đầu thang, Đót buông tay, và nó bay.
Không phải bay như chim. Nó trôi, chậm rì, lộn một vòng ngược, tóc dựng lên. Nó la lên một tiếng, nửa sợ nửa sướng. Ông Khiêm chụp cổ chân nó, kéo nó về sát vách, chỉ cho nó mấy cái quai vải dọc tường để níu.
– Níu cái này. Đừng đạp mạnh. Đạp mạnh là bay luôn qua đầu kia, đập mặt vô vách.
Đót níu. Nó đi bằng tay, từng quai một, như con khỉ leo cây ngang. Hành lang trục dài, sáng, lạnh. Bên trái là cửa các khoang hàng, chữ A, B, C sơn trắng trên nền xanh. Đót biết sau cửa A là cái ống tre của nó, nằm trong một cái hộp lạnh. Nó không xin vào. Nó nhìn cánh cửa A trôi ngang qua, rồi níu quai đi tiếp.
Buồng lái tròn như cái bụng cá, có ba cái ghế, và phía trước là một khung kính lớn cong. Bên ngoài là đen. Đen đặc, sâu, không có trên dưới. Trong cái đen đó là sao, nhiều hơn Đót từng thấy, kể cả những đêm mất điện ở Gò Mây.
Ở đây, ở trục giữa, sao không trôi. Sao đứng yên.
– Ở dưới vòng quay sao chạy hoài. – Đót nói.
– Tại vòng quay quay. Ở đây không quay. – Ông Khiêm nói. Ông ngồi vào ghế giữa, thắt dây, chỉ cho Đót cái ghế bên cạnh. – Thấy chỗ kia không. Chấm vàng vàng to nhất.
– Dạ.
– Mặt trời. Nhà mình ở cạnh nó. Nhỏ quá, không thấy.
Đót nhìn cái chấm vàng. Nó không to như mặt trời. Nó to như một hạt lúa cầm cách mặt một sải tay.
– Còn Cửa Ngàn?
Ông Khiêm chỉ về một khoảng tối bên phải, không có gì cả.
– Đằng kia. Chưa thấy được. Phải bốn tháng nữa.
– Cửa Ngàn nó ra sao ông?
Ông Khiêm nghĩ một lúc. Đót thấy ông nghĩ thật, chứ không phải nghĩ cách để nói với con nít.
– Cháu biết cái rạch nhỏ ở quê không? Cái rạch mà nước ròng thì cạn trơ bùn, ghe nằm nghiêng. Nước lên thì đầy, ghe vô được tới trong vườn.
– Dạ. Sau nhà con có.
– Cửa Ngàn y vậy. Nó nằm đó, trơ trơ, hai mươi ba ngày. Rồi nó lên nước. Năm tiếng bốn mươi phút. Tàu nào canh đúng con nước, đúng lạch, thì vô. Lỡ con nước thì nằm chờ, như ghe nằm nghiêng trên bùn. – Ông ho một tiếng. – Ông canh con nước đó gần hai mươi năm.
– Ông chạy ghe hả?
– Ông chạy tàu kéo. Kéo xà lan băng ra vô cửa. Bốn lần.
– Bên kia cửa là Cồn Xanh hả ông?
– Bên kia cửa là một mặt trời khác. Cồn Xanh quay quanh nó.
Đót nhìn cái khoảng tối bên phải rất lâu. Ở đâu đó trong đó, má nó đang đi đo ruộng.
– Ông có con cháu hông ông?
Ông Khiêm không quay sang. Đót thấy tay ông đặt trên cái cần điều khiển, mấy ngón tay già có đốm đồi mồi, nắm vào, mở ra.
– Có một đứa con gái.
– Ở đâu?
– Ở xa.
– Xa cỡ nào?
Ông im một lúc lâu tới mức Đót tưởng ông không nghe.
– Xa cỡ má cháu. – Ông nói.
Đót không hiểu lắm. Nó nghĩ chắc con gái ông cũng đi Cồn Xanh. Hoặc đi một chỗ xa như Cồn Xanh. Nó muốn hỏi tiếp, nhưng ông đã kéo cái radio cũ trong hộc ghế ra, một cái hộp gỗ có cái cần quay ở hông, vặn dây cót, rồi bật lên. Không có đài nào ở đây cả. Chỉ có tiếng rè rè, đều đều, như tiếng mưa xa.
– Ông mở chi vậy?
– Ông quen. – Ông nói. – Hồi chạy tàu kéo, đêm nào cũng mở. Nghe tiếng rè cho đỡ trống.
Hai ông cháu ngồi đó, nghe tiếng rè, nhìn sao đứng yên. Đót thấy mắt mình díp lại. Nó bắt đầu đếm, không có ống tre, đếm bằng ngón tay cái trên đầu ngón trỏ, như ngoại dạy. Một. Hai. Ba.
– Dạ, thuyền trưởng.
Giọng Đụn vang lên trong buồng lái. Ở đây không có luật riêng tư; ở buồng lái, Đụn lúc nào cũng nghe.
– Đụn nói đi.
– Dạ, cảm biến mũi tàu vừa thấy một vùng bụi chưa có trong bản đồ. Có lẽ là đuôi của một sao chổi đã tan. Mật độ thấp, hạt nhỏ hơn hạt cát. Nếu giữ đường bay hiện tại, tàu đi vào vùng bụi sau năm ngày và ở trong đó chừng bốn tiếng.
Ông Khiêm tắt radio.
– Tránh được không?
– Dạ, tránh hết thì không. Vùng bụi rộng hơn khả năng đổi hướng của tàu mà không mất con nước. Tránh được phần dày nhất nếu đổi góc từ bây giờ. Phần còn lại, tàu phải đi qua.
Ông Khiêm đưa tay bấm gọi cô Xuyến. Rồi ông quay sang Đót, và lần đầu tiên từ lúc lên tàu, Đót thấy ông nhìn thẳng vào mắt nó.
– Năm ngày nữa, ông bảo chỗ nào thì cháu ở yên chỗ đó. Hứa không?
Đót gật. Nó vừa hứa với ông một điều nữa. Nó đếm lại trong đầu những điều nó đã hứa với ông. Đây là điều thứ hai.
— Hết chương 5 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe