Chương 32: Đòng trong bụng tàu
Khúc Duy Toản biết mình sẽ nhớ cái bếp này suốt đời, và anh biết điều đó ngay khi đang ngồi trong nó, điều mà người ta hiếm khi biết.
Sáu giờ sáng, ngày một trăm chín mươi. Vệt Ông Lửa chạy ngang ô kính tròn, sáng sáu giây, tối mười bốn giây. Trong vệt sáng đó, bốn cây lúa đứng trong cái chảo giấy bạc anh dán bằng vỏ lương khô. Ba cây đã có đòng. Cây thứ tư, cây nhỏ nhất, mới bắt đầu phình. Con bé ngồi trên ghế bếp, chống cằm, nhìn chúng như người ta nhìn một nồi cơm sắp chín.
Anh Mẫn pha trà. Cô Tuyền múc cháo. Cô Dung ngồi đối diện cái khay với cây thước nhựa. Cô Xuyến ăn đứng, như mọi sáng, rồi đi lên buồng lái. Ông Khiêm thì không có ở bếp. Ông vẫn nằm ở phòng y tế, mỗi ngày được ngồi dậy lâu hơn một chút. Mỗi sáng, con bé chĩa cái máy vào bốn cây lúa, quay một đoạn, đem xuống cho ông coi.
Hôm nay, trước khi con bé đi, cô Dung gọi nó lại.
– Cháu. Ngồi đây.
Cô đặt lên bàn một cái ống nghiệm nhỏ, nắp vặn, cỡ ngón tay út. Trên nắp có miếng nhãn đã ngả vàng: MT-0705-02. Bên trong, nằm nghiêng dưới đáy, là sáu hạt lúa.
Toản đã nghe kể về sáu hạt đó. Anh chưa thấy chúng bao giờ. Anh cúi người qua bàn.
Hạt dài, vỏ nâu đỏ như gạch nung. Và mỗi hạt có một sợi râu. Dài gấp đôi thân hạt, cứng, hơi cong, như sợi râu tôm. Sáu sợi râu bắt chéo nhau trong cái ống nhỏ, như sáu cây cung thu nhỏ.
– Lúa có râu. – Con bé nói, rất nhỏ.
– Cô đem nó xuống từ khoang A. – Cô Dung nói. – Lúc xuống Cồn Xanh, cô không muốn sáu hạt này nằm chung một chỗ. Xuồng đổ bộ mà có chuyện gì thì mất hết. Cô chia hai.
Cô lấy ra một cái ống nghiệm nhỏ nữa, mới, trống. Cô đeo găng, mở nắp, nghiêng, gắp ba hạt sang ống mới. Cô làm chậm, tay không run. Không sợi râu nào gãy. Toản để ý điều đó, vì anh nhớ cô Dung từng làm gãy một sợi.
Cô vặn nắp ống mới. Cô lấy một sợi dây nhựa xanh, loại buộc cành cây giống, thắt quanh cổ ống, làm thành một cái vòng.
– Ba hạt cô giữ. – Cô nói. – Ba hạt cháu giữ.
Con bé nhìn cái ống.
– Con giữ?
– Cháu đeo vào cổ. Không mở ra. Không cho ai coi. Tới Cồn Xanh thì đưa má cháu. – Cô ngừng. – Đó là quy trình của cô. Mẫu quý thì chia hai, hai người giữ, ở hai chỗ khác nhau.
Con bé đưa hai tay ra. Cô Dung đặt cái ống vào. Con bé cầm nó lên, nhìn ba sợi râu qua lớp thủy tinh, rồi đeo vào cổ, nhét vào trong áo. Nó đặt bàn tay lên ngực, chỗ cái ống nằm, như người ta đặt tay lên một cái túi có tiền.
– Cô hổng sợ con làm mất hả cô?
– Cháu giữ một cái ống tre sáu mươi ba năm. – Cô Dung nói. – Không phải cháu, thì nhà cháu giữ. Cô tin nhà cháu.
Toản nhìn qua anh Mẫn. Anh Mẫn đang cúi xuống ly trà, rất chăm chú, như đang tính một cái gì khó.
Mười một giờ bốn mươi ngày hôm đó, nước lên ở Cửa Ngàn, ở xa sau lưng, và tin của Ban điều hành về tới.
Cô Xuyến đọc nó ở bếp. Lần này cô cho Đụn đọc. Toản hiểu vì sao: cô không muốn giọng mình dính vào những chữ đó, dù chúng tốt hay xấu.
"Ban điều hành Quỹ Giống Trường Lam gửi tổ lái tàu Bồ Hai. Một: Viện giống đã kiểm tra các mẫu lưu đối ứng tại kho Vân Khẩu theo phương pháp cắt phôi của kỹ sư Bế Thị Dung. Nấm nội sinh có mặt ở mười một trên ba mươi lô TL-9 và TL-14 được kiểm. Hai: Ban điều hành rút lại chỉ thị ngày hai tháng Mười Một. Việc gieo trồng tại Cồn Xanh do làng Bến Mới quyết định, trên cơ sở tư vấn của các kỹ sư nông học. Ba: Ban điều hành ghi nhận việc thả hàng khoang C. Việc xem xét trách nhiệm của quyền thuyền trưởng sẽ tiến hành khi tàu về. Bốn: Ban điều hành đã mời kỹ thuật viên Quách Thị Nhàn tham gia nhóm kiểm tra."
Đụn đọc xong. Rồi nói:
– Dạ, có một tin riêng kèm theo. Gửi kỹ sư Bế Thị Dung và kỹ sư Ôn Thị Mai Hiên. Người gửi: Nhan Bá Thịnh.
Cô Dung đặt cái thước nhựa xuống.
– Đọc đi.
"Tôi đã đọc lại báo cáo ngày ba tháng Tám năm 2088. Tôi đã lưu nó vì lịch xuất lô cho tàu Bồ Hai không cho phép thêm hai tháng kiểm tra. Tôi đã tin số liệu phòng thí nghiệm hơn tin một người cắt bốn mươi hạt ngoài quy trình. Tôi đã trả lời báo cáo của làng Bến Mới ba lần, mỗi lần một dòng. Tôi đã sai. Tôi đã xin thôi chức giám đốc Quỹ, có hiệu lực khi Ban tìm được người thay. Tôi không xin các chị tha thứ. Tôi chỉ muốn các chị biết là tôi đã đọc."
Không ai nói gì.
Toản nhìn cô Dung. Cô ngồi im, hai tay đặt trên bàn. Cô không vui. Anh tưởng cô sẽ vui. Cô nhìn cái khay lúa, vệt Ông Lửa chạy qua, sáng, tối.
– Ông ấy sáu mươi sáu tuổi. – Cô nói, sau một lúc. – Năm chị mới vào viện, ông ấy là người ký giấy nhận chị. Ông ấy nói: "Cô làm cho tôi một giống lúa nuôi được người ta." Chị làm. Mười một năm.
Cô đứng dậy, đi ra. Không lên trục. Cô đi xuống vườn ươm.
Chiều đó, má của con bé gọi lên. Má đã đọc tin của Ban, đã đọc thư của ông Thịnh. Toản ngồi gần nên nghe được.
– Chị Dung có ở đó không con? – Má hỏi. Rồi, không chờ được câu trả lời, vì câu trả lời phải đi hai mươi mấy phút, má nói luôn. – Chị Dung, em đọc rồi. Em không cần ông ấy thôi chức. Ông ấy thôi thì người mới vô lại phải học lại từ đầu. Em cần ông ấy ngồi đó, viết cho Quỹ một cái đơn, xin chuyến Bồ Ba chở giống cổ. Lúa rẫy, bắp đá, đậu nương, cái gì không có gốc TL cũng được. Ở nhà còn nhiều người giữ ống tre lắm, chị. Chỉ là chưa ai hỏi.
Con bé quay sang nhìn cái loa trên trần, rồi nhìn Toản. Toản biết nó đang nghĩ tới cái danh sách của Đụn.
Ngày một trăm chín mươi lăm, Bến Mới im.
Má của Đót đã báo trước, chiều hôm trước: gió lên, trời đỏ phía tây, ông Trung nói ba ngày nữa có bão bụi. Mùa khô năm nay dài, ruộng nứt nẻ, đất bột như bột mì. Bão bụi ở Cồn Xanh thì đỏ, dày, thổi bốn năm ngày, phủ kín mọi thứ. Má nói làng sẽ chằng mái kho, hạ ăng ten xuống, chui vào nhà ở. "Má không gọi được mấy ngày. Đót đừng lo."
Rồi má nói thêm một câu, nhỏ hơn, mà Toản thấy con bé không nghe ra:
– Kho còn hai mươi ngày lương.
Sáng ngày một trăm chín mươi lăm, Đụn báo: không bắt được tín hiệu từ Bến Mới. Đụn thử mỗi giờ. Không có.
Con bé ngồi trong bếp cả ngày, cạnh cái khay. Toản ngồi với nó. Nó không hỏi gì. Nó xoay cái khay một phần tư vòng buổi sáng, rồi ngồi đó. Thỉnh thoảng nó đặt tay lên ngực, chỗ cái ống nghiệm nhỏ.
Ngày thứ hai, nó hỏi Đụn mỗi giờ. Đụn trả lời mỗi giờ: chưa có.
Ngày thứ ba, ông Khiêm đòi xuống bếp. Cô Tuyền không cho. Ông xuống bếp. Ông đi chậm, một tay vịn vách, một tay kéo cái bình ôxy nhỏ có bánh xe, cái ống nhựa trong mũi. Ông ngồi xuống cái ghế cạnh con bé. Ông không nói gì. Hai ông cháu ngồi nhìn vệt Ông Lửa chạy qua bốn cây lúa, sáng, tối.
– Ông. – Con bé nói, tối hôm đó. – Bão bụi có chết người hông ông?
Ông Khiêm im lâu.
– Ông không biết. – Ông nói. – Ông chưa từng xuống Cồn Xanh.
Toản nghĩ: ông có thể nói dối. Ông đã nói dối con bé nhiều lần. Ông không nói dối nữa.
– Má con nói làng chui vô nhà ở. – Con bé nói.
– Ừ. Má cháu nói vậy thì làng làm vậy.
– Sao ông biết?
– Vì má cháu là trưởng nhóm giống. – Ông nói. – Má cháu viết ba lá thư về Quỹ, ba lần bị trả lời một dòng, lần thứ ba vẫn viết. Người như vậy nói chui vô nhà là cả làng chui vô nhà.
Con bé nghĩ một lúc. Rồi nó gật.
Ngày thứ tư, ngày một trăm chín mươi tám. Chiều. Toản đang sửa cái bơm nước trong bếp, con bé đang làm toán, ông Khiêm đang ngủ gật trên ghế. Đụn nói:
– Dạ, Đót. Có tín hiệu từ Bến Mới.
Con bé đứng bật dậy, cái ghế ngã. Ông Khiêm giật mình mở mắt.
Không phải video. Một tin thoại ngắn, giọng ông Trung trưởng làng, sột soạt tiếng gió.
– Bồ Hai. Bến Mới đây. Bão tan rồi. Không ai chết. Mái kho bay một góc, lương ướt chừng hai bao, đem phơi. Ruộng lấp bụi đỏ hết, phải cào. Ăng ten gãy một chân, thằng Lực leo lên buộc lại. – Ông ngừng. Có tiếng chó sủa ở đâu đó gần máy. – Kỹ sư Mai Hiên đang ngoài ruộng thử. Cổ đào bụi coi đất bên dưới. Cổ nhắn: đất dưới bụi còn ẩm. Cổ nhắn con nhỏ: má đây.
Hết.
Con bé đứng giữa bếp, tay còn đặt trên ngực. Rồi nó cười. Nó cười tới nỗi phải ngồi xuống sàn, như cái sáng ông Khiêm nói "ông ấy là một thằng ngu".
Ông Khiêm nhìn nó cười. Lần này khoé miệng ông không chỉ giật một cái. Ông cười. Một tiếng, khàn, ngắn, rồi ông ho, rồi ông lại cười.
Toản chưa bao giờ nghe ông Khiêm cười thành tiếng.
Tối ngày hai trăm lẻ năm, cô Xuyến gọi cả tổ lên buồng lái. Ông Khiêm không lên được, nên cô cho Đụn nối cái loa phòng y tế vào.
Qua khung kính, Cồn Xanh không còn là một chấm. Nó là một hòn bi, to bằng đầu ngón tay cái cầm cách một sải tay, xanh lá ở giữa, nâu đỏ ở hai bên, trắng ở hai đầu. Một nửa sáng, một nửa tối. Trên nửa sáng, nếu nhìn kỹ, thấy được những vệt xanh đậm chạy ngoằn ngoèo, như gân lá.
– Còn bảy ngày tới quỹ đạo. – Cô Xuyến nói. – Ngày hai mươi tám tháng Chạp. Hãm cuối bắt đầu từ mai.
Cô bật màn hình. Một bản vẽ. Cái xuồng đổ bộ của tàu Bồ Hai, gắn dưới bụng trục, cái mà suốt hai trăm ngày không ai đụng tới.
– Xuồng chở mỗi chuyến bốn người và hai tấn hàng. – Cô nói. – Một chuyến đi xuống, về lại tàu, nạp nhiên liệu, đi chuyến nữa, mất chừng sáu giờ. Làng cần lương trước. Hai tấn lương khô phải xuống chuyến đầu.
Cô nhìn từng người.
– Bốn chỗ. Bảy người. Tôi lái xuồng, nên tôi đi chuyến đầu. Còn ba chỗ.
— Hết chương 32 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe