Chương 28: MT-0705-02
Bế Thị Dung ngồi xuống sàn gian hai, đối diện con bé, cái khay nhỏ nằm giữa hai người, và cô kể. Cô không kể như đọc biên bản. Lần đầu tiên trong đời làm nghề, cô kể một quy trình như kể một chuyện mình đã làm sai.
– Ngày thứ năm, lúc cô mở cái ống tre, cháu đứng ngoài tủ kính. Cháu còn nhớ cô làm gì không?
Con bé nhìn cô. Nó nhớ. Cô thấy trong mắt nó nó nhớ.
– Cô đếm. Một nghìn hai trăm mười ba. – Nó nói. – Cô lấy bốn mươi hạt gieo khay số hai. Cô lấy… – Nó dừng lại.
– Cô lấy mười hạt cất vào một cái ống nhỏ. – Cô Dung nói. – Dán nhãn. Cất vào ngăn lạnh khoang A, ô số mười bốn. Đụn ghi sổ. Cháu hỏi cô mười hạt đó ai giữ, cô nói kho giống giữ, nghĩa là cô giữ.
Con bé ngồi im. Cô Dung thấy nó đang đếm ngược những ngày, từ hôm nay về ngày thứ năm, như người lần lại một sợi dây.
– Cái lệnh đốt. – Cô Dung nói. – Cô Xuyến đọc ba mục. Hạt trong ống tre. Cây trong khay số hai. Đồ của cháu có đụng thùng số Bảy. Cái ống nhỏ mười hạt không nằm trong ống tre. Nó không nằm trong khay số hai. Nó không phải đồ của cháu. Nó là mẫu đối chứng của kho giống, đăng ký trong sổ của Đụn từ ngày thứ năm, theo đúng quy trình cô viết mười năm trước cho cả viện giống.
– Cô biết từ hồi đó?
– Cô biết từ lúc cô Xuyến đọc lệnh. – Cô Dung nói. – Sáng thứ Ba. Cô đứng ở bếp, nghe ba mục, và cô biết ngay cái ống nhỏ không có tên trong đó.
– Sao cô hổng nói?
Cô Dung nhìn xuống bốn cây lúa trong khay.
– Vì nếu cô nói, cô Xuyến phải báo. Cô Xuyến báo thì Ban điều hành ra một cái lệnh mới, có bốn mục. Mục thứ tư là cái ống nhỏ. – Cô ngừng. – Cô đứng trong bếp, thấy cháu đứng ở cửa nói "cây lúa của ngoại có đòng rồi". Cô không nói gì hết. Sáng hôm sau cô đứng cạnh lò, thấy cháu đếm sáu mươi ba khấc qua túi niêm. Cô không nói gì hết. Cô để cháu tưởng là hết rồi. Bốn mươi sáu ngày nay, mỗi lần đi ngang cháu, cô biết cháu tưởng là hết rồi.
Con bé không nói gì.
– Đêm ngày chín mươi chín. – Cô Dung nói tiếp. – Cô lấy cái ống nhỏ ra khỏi ô mười bốn. Cô đếm lại. Vẫn mười hạt. Cô gieo bốn hạt vào cái khay này. Lỗ sâu, hạt đứng, đầu nhọn xuống. Cô giữ sáu hạt khô trong ống, cất lại chỗ cũ. Gieo hết thì lỡ cây chết, không còn gì. Thằng Toản đi ngang, cô nói dối nó là TL-14. Cô dán cái nhãn đó lên để ai đi ngang cũng nghĩ vậy.
– Còn chú Đụn?
– Cô bảo Đụn ghi riêng. Chỉ nói khi có người hỏi.
Con bé ngồi im rất lâu. Cô Dung không biết nó sẽ làm gì. Nó có thể khóc. Nó có thể giận, như nó đã giận Đụn mười hai ngày. Nó có thể đứng dậy bỏ đi.
Nó cúi xuống, áp mặt vào vách nhựa trong của cái khay, nhìn bốn cây lúa từ dưới gốc lên.
– Bốn cây. – Nó nói. – Sáu hạt.
– Ừ.
– Vậy là còn mười.
Cô Dung không hiểu ngay. Rồi cô hiểu. Bốn cây đang sống, sáu hạt đang ngủ. Con bé không đếm cái đã mất. Nó đếm cái còn.
Tối đó, cả tổ họp ở bếp.
Cô Dung kể lại, đủ hết, không bớt câu nào. Cô kể cả chuyện nói dối Toản. Toản nghe tới đó thì nhìn cô, há miệng, rồi bật cười một tiếng, rồi lấy tay che mặt.
Cô Xuyến không cười. Cô ngồi đầu bàn, hai tay đan lại, nghe hết. Rồi cô hỏi một câu, không phải hỏi cô Dung.
– Đụn. Mày biết không?
– Dạ biết.
– Biết từ bao giờ?
– Dạ, Đụn ghi sổ mẫu MT-0705-02 từ ngày thứ năm. Lúc mười một giờ bốn mươi bảy đêm ngày chín mươi chín, chị Dung dùng quyền người giữ kho giống lấy ống ra khỏi ô mười bốn. Đụn ghi. Mười hai giờ mười hai phút sáng ngày một trăm, chị Dung cất ống lại, còn sáu hạt. Đụn ghi. Chị Dung lệnh khay mới ghi nhật ký riêng, chỉ báo khi được hỏi. Không ai hỏi.
– Lệnh của Ban điều hành có tên cái ống đó không?
– Dạ không. Lệnh có ba mục. Mẫu MT-0705-02 là mẫu đối chứng đã đăng ký của kho giống, không thuộc mục nào. – Đụn ngừng đúng một giây. – Việc chị Dung gieo bốn hạt không đe doạ tính mạng người trên tàu. Đụn không phải báo.
Cô Xuyến nhìn lên cái loa. Cô Dung thấy hàm cô siết lại, rồi thả ra.
– Có ai hỏi mày chưa? Trong bốn mươi sáu ngày. Có ai hỏi một câu nào mà nếu mày trả lời thì phải nói ra chuyện này?
– Dạ có một người suýt hỏi. – Đụn nói. – Tối ngày một trăm mười, Đót bảo Đụn đọc danh sách những điều Đụn biết mà chưa ai hỏi, từ đầu. Việc lệnh tiêu huỷ có ba mục trong khi kho giống có ba trăm tám mươi tư ô lạnh nằm ở dòng thứ một trăm chín mươi mốt. Việc chị Dung lấy ống ra khỏi ô mười bốn nằm ở dòng thứ một trăm chín mươi chín. Đót nghe tới dòng thứ mười bốn thì ngủ. Những tối sau, Đót nghe tới dòng thứ hai mươi mốt.
Cả bếp im.
Con bé ngồi giữa cô Tuyền và Toản. Nó nhìn lên cái loa, mặt đỏ dần, đỏ tới mang tai.
– Chú Đụn! – Nó nói. – Sao chú hổng đọc nhanh!
– Dạ, Đót dặn Đụn đọc từ đầu.
Anh Mẫn là người cười trước. Anh cười gục xuống bàn, tay phải quấn băng vỗ vỗ lên mặt bàn. Rồi Toản. Rồi cô Tuyền. Cô Dung không cười được, nhưng cô thấy cái gì đó trong ngực mình, cái thứ nằm cứng ở đó từ đêm ngày chín mươi sáu, nới ra một chút.
Cô Xuyến vẫn không cười.
– Chị Dung. – Cô nói, khi bếp im lại. – Chị để em đứng cạnh lò đốt cái ống tre của con nhỏ. Chị để em đọc mã Ban, chị để con nhỏ đếm khấc lần cuối trước mặt em. Trong khi chị biết.
– Ừ.
– Sao chị không nói với em? Không phải với Ban. Với em.
Cô Dung nhìn cô.
– Vì em không nói dối được, Xuyến. Như Đụn. – Cô nói. – Em mà biết thì em phải báo. Em không báo thì em sẽ không nhìn thẳng mặt mình được nữa. Chị không muốn em phải chọn. Chị chọn thay em.
Cô Xuyến nhìn cô Dung rất lâu. Rồi cô quay đi, nhìn ra ô kính, nơi cái đốm cam đỏ của Ông Lửa trôi qua, hắt một vệt sáng ấm vào bếp, rồi trôi đi.
– Ông Khiêm cũng chọn thay mọi người. – Cô nói nhỏ. – Ở Bãi Sú.
Không ai trả lời câu đó. Ông Khiêm ngồi ở đầu bàn bên kia, nghe, và không nói gì.
Ngày một trăm bốn mươi lăm, cô Dung làm một phép thử.
Cô làm nó trong phòng thí nghiệm trên trục, trong tủ thao tác kín, áp suất âm, như mọi việc với mẫu bệnh. Cô cắt một mẩu lá nhỏ bằng móng tay từ mỗi cây Ré Mây, cắt ở lá già nhất, chỗ cây ít cần nhất. Cô cắt bốn mẩu lá tương tự từ bốn cây mạ TL-14 trong vườn ươm. Cô đặt tám mẩu lá lên tám miếng thạch ẩm, trong tám cái hộp nhỏ đậy kín, chia hai hàng. Cô cho bào tử bệnh tro từ đĩa khoang C lên mặt cả tám mẩu lá, đều như nhau.
Rồi cô làm cái việc mà ở nhà không ai làm được. Cô đặt hai hàng hộp vào một cái ngăn có ô kính nhìn ra ngoài, ở mặt trục quay về phía Ông Lửa. Ánh sáng của mặt trời Cồn Xanh, ánh cam đỏ thật, không phải đèn phòng thí nghiệm ở Vân Khẩu, chiếu thẳng lên tám mẩu lá.
– Đụn. Ghi nhật ký phép thử. Ghi chung. Không ghi riêng nữa.
– Dạ.
Năm ngày.
Con bé lên phòng thí nghiệm mỗi chiều, đứng ngoài lớp kính tủ, hai tay chắp sau lưng như cái chiều ngày thứ năm. Nó không hỏi. Nó chỉ nhìn.
Ngày thứ ba, bốn mẩu lá TL-14 có đốm. Nhỏ, xám nhạt, ở mép lá. Ngày thứ tư, đốm lan thành mảng, mép lá bắt đầu quăn, khô từ chóp vào, đúng như những tấm ảnh làng Bến Mới gửi về từ năm 2087. Ngày thứ năm, bốn mẩu lá TL-14 xám như tro bếp nguội.
Bốn mẩu lá Ré Mây xanh.
Không một đốm. Bào tử vẫn nằm trên mặt lá, cô Dung soi thấy rõ dưới kính hiển vi. Nó nằm đó, không mọc, không đâm sợi, như hạt giống rơi trên đá.
Cô Dung chụp ảnh. Cô chụp từng mẩu lá, từng góc, có thước đo, có ngày giờ, có nhiệt độ, có độ ẩm, có số đo ánh sáng Ông Lửa. Cô làm chậm, kỹ, như người viết luận văn. Con bé đứng ngoài lớp kính nhìn cô làm.
– Cô Dung. – Nó nói. – Vậy là lúa của ngoại hổng bệnh.
– Bốn mẩu lá không bệnh. – Cô Dung nói. – Trong năm ngày. Trong một cái hộp. Cô cần thử trên cây thật, ngoài đất thật, cả một vụ, mới nói được là lúa của ngoại cháu không bệnh.
– Mà bốn mẩu lá hổng bệnh.
Cô Dung đặt cái máy chụp xuống.
– Ừ. – Cô nói. – Bốn mẩu lá không bệnh.
Tối ngày một trăm năm mươi, cô Xuyến ngồi trên buồng lái với hai bản tin.
Bản thứ nhất gửi làng Bến Mới. Tin đi thẳng, mất hai mươi lăm phút, chiều nay đi thì tối nay Mai Hiên đọc được. Trong đó có ảnh tám mẩu lá, có số liệu, có chuyện bốn cây lúa, sáu hạt khô. Không có gì để chọn ở bản này. Làng có quyền biết.
Bản thứ hai gửi Ban điều hành. Nó sẽ không đi được cho tới con nước ngày mười bốn tháng Mười hai, mười bảy ngày nữa. Khi nó tới nơi, Ban sẽ đọc. Rồi Ban sẽ trả lời. Câu trả lời sẽ về lúc nước lên ngày sáu tháng Một năm sau. Cô Dung đã nói với cô, tối qua, ở bếp: "Em gửi hay không là việc của em. Nhưng nếu em gửi, Ban có thể ra một cái lệnh có bốn mục."
Cô Xuyến ngồi nhìn hai bản tin.
Cô gửi bản thứ nhất.
Bản thứ hai, cô để lại trong máy, chưa gửi, chưa xoá. Còn mười bảy ngày.
Ngày một trăm năm mươi mốt, tấm kính dự phòng cho vách gian một được đem ra khỏi kho. Tấm nhựa vá tạm đã giữ được bảy ngày, nhưng nó bắt đầu phồng lên giữa, như cái bụng cá. Anh Mẫn với Toản thay kính từ trong, mất cả buổi chiều. Ông Khiêm đòi xuống phụ. Cô Tuyền không cho. Ông xuống phụ. Ông đứng dưới chân bàn thao tác, giữ cái kẹp tấm kính, đưa ốc cho Toản.
Đót đang ở bếp làm toán thì nghe tiếng anh Mẫn la, không ra chữ.
Nó chạy xuống. Ở cửa nối gian một, nó thấy ông Khiêm nằm trên sàn, nghiêng một bên, cạnh chân bàn thao tác, cái kẹp tấm kính rơi cạnh tay. Mắt ông nhắm. Môi ông tím ngắt. Toản đang quỳ cạnh ông, lay vai ông, gọi "ông Khiêm, ông Khiêm", cái giọng như con nít.
– Đụn, gọi chị Tuyền! – Anh Mẫn la.
– Dạ, đã gọi. Chị Tuyền tới trong bốn mươi giây.
Đót đứng ở cửa nối, không chạy tới được. Chân nó không chịu đi. Nó thấy cái ví da cũ của ông lòi ra khỏi túi áo ngực, chỗ gập đã nứt, rơi trên sàn, mở ra. Tấm ảnh bên trong, người con gái đứng giữa rẫy lúa đỏ ối, nằm úp mặt xuống mặt sàn lưới.
— Hết chương 28 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe