Chương 35: Họp làng
Làng Bến Mới không có đình. Họ có một cái nhà chung mái lá, dài, thấp, vách đất trộn rơm, dựng bên bờ sông Mạ từ năm đầu tiên. Tối hai mươi chín tháng Chạp, cái nhà đó chứa gần hết hai trăm lẻ chín con người cộng thêm bảy người vừa từ trên trời xuống.
Lò Thị Xuyến ngồi ở một góc, lưng tựa vách đất, và cô nghĩ: cái nhà này giống nhà sàn ở bản Sáo Đá tới mức làm cô khó thở.
Không phải giống hình dạng. Nhà ở bản cao, có sàn, có cầu thang. Nhà này thấp, sát đất. Nhưng giống cái mùi. Mùi khói bếp củi, mùi người, mùi lúa cũ trong mấy cái bồ để ở góc, mùi dầu đèn. Giống cái tiếng: tiếng con nít khóc ở đâu đó, tiếng người già ho, tiếng đàn bà nói nhỏ với nhau, tiếng một con chó gãi tai sột soạt dưới gầm ghế. Giống cái ánh sáng vàng, lắc lư, hắt lên vách đất những cái bóng lớn hơn người.
Ở giữa nhà có một cái bếp lửa. Cạnh bếp lửa, trên một cái ghế đẩu tre, có một cái khay nhựa nhỏ vách trong, bọc giấy bạc ba mặt. Bốn cây lúa. Ba cây có đòng. Cây thứ tư đã phình hẳn lên chiều nay, cô Dung nói chắc do được ra nắng thật lần đầu.
Ai đi ngang cái ghế đẩu cũng dừng lại nhìn. Có bà cụ đứng nhìn lâu, rồi đưa tay định sờ, rồi rụt tay lại. Có thằng nhỏ chừng sáu tuổi hỏi mẹ nó: "Lúa gì mà có màu tím ở lá vậy má?" Mẹ nó không trả lời được.
Ông Lư Khắc Trung đứng dậy lúc tám giờ.
– Bà con. – Ông nói. Ông không có micro, không cần. Giọng ông trầm, đặc, giọng của người miệt sông, vang tới cuối nhà. – Tối nay là tối ba mươi. Năm nay tháng Chạp thiếu, không có ba mươi, nên hai mươi chín là ba mươi. Tối nay mình ăn Tết. Mà trước khi ăn Tết, mình phải quyết một chuyện. Chuyện này để qua Tết không được. Mưa tới rồi.
Ông chỉ ra cửa. Ngoài trời tối, nhưng ai cũng nghe: gió đã đổi chiều từ chiều nay, thổi từ phía biển vào, ẩm. Mùi mưa.
– Cô Hiên nói trước.
Mai Hiên đứng dậy. Chị nói ngắn, vì chị biết người ta đói và người ta muốn ăn Tết. Chị nói về bệnh tro, về cái nấm nằm trong hạt TL từ nhà. Chị nói về lô ba của cô Dung, về mười một trên ba mươi lô ở kho Vân Khẩu. Chị nói về tám mẩu lá dưới ánh Ông Lửa thật. Chị không dùng chữ khó. Chị nói như nói với con nít, như cái lần chị giảng cho con bé qua màn hình.
Rồi cô Dung đứng dậy. Xuyến thấy cô Dung run. Cô Dung đã nói trước Ban điều hành, trước hội đồng viện giống, trước cả trăm nhà khoa học. Cô chưa bao giờ nói trước hai trăm người nông dân gầy, đen, ngồi bệt trên nền đất, nhìn cô bằng những đôi mắt đã thấy hai vụ lúa chết.
– Tôi là người làm ra giống TL-14. – Cô nói. Đó là câu đầu tiên. – Năm tấn hạt trên tàu, gần ba tấn còn lại bây giờ, là của tôi. Tôi không giấu bà con. Tôi đã cắt nó ra, tôi đã thấy cái nấm trong đó. Nếu bà con gieo nó trên toàn bộ ruộng bãi bồi, nó có thể lên tốt một vụ. Nó cũng có thể chết như TL-9 đã chết. Tôi không biết. Tôi chỉ biết là tôi không biết.
Một người đàn ông ở giữa nhà đứng dậy. Ông chừng năm mươi, vai rộng, tay to như hai cái mo cau.
– Cô không biết. – Ông nói. – Vậy cô nói làng ăn gì?
Cả nhà im.
– Tôi là Cao Văn Lực. Tôi cày ruộng bãi bồi từ năm đầu. Tôi chôn mẹ tôi ở đồi Bông Gòn năm ngoái, cạnh bà Thơm. – Ông nói. Giọng ông không giận. Giọng ông mệt. – Hai năm rồi tụi tôi ăn khoai độn bắp. Rồi khoai cũng đốm. Giờ cô nói đừng gieo lúa. Cô Hiên nói đừng gieo lúa. Vậy năm nay gieo gì? Bốn cây lúa kia hả? Bốn cây lúa nuôi được ai?
Không ai trả lời được.
Xuyến nhìn quanh. Cô thấy anh Mẫn ngồi bên kia bếp lửa, cái bảng tính đặt trên đùi. Anh không gõ. Cô thấy Toản ngồi cạnh con bé, con bé ngồi cạnh má nó. Cô thấy ông Khiêm ngồi trên cái ghế tre duy nhất có tựa lưng, làng nhường cho ông, cái bình ôxy dựng bên chân, mắt nhắm.
Rồi con bé đứng dậy.
Mai Hiên níu tay nó lại. Nó gỡ tay má ra, nhẹ thôi, rồi đi tới cạnh cái ghế đẩu có cái khay lúa.
– Chú Lực. – Nó nói. Giọng nó nhỏ, nhưng nhà im quá, ai cũng nghe. – Bốn cây lúa hổng nuôi được ai hết.
Ông Lực nhìn nó.
– Ngoại con có cái rẫy trên Gò Mây. – Nó nói. – Ngoại trồng Ré Mây với bắp với đậu với mè, xen nhau. Ngoại nói ruộng trồng một thứ là ruộng buồn. Trồng một thứ, nó bệnh là bệnh hết. Trồng nhiều thứ, thứ này bệnh còn thứ kia. – Nó ngừng, nghĩ. – Rẫy của ngoại nuôi có hai người. Mà năm nào cũng có cái để ăn. Sáu mươi ba năm. Hổng năm nào hổng có.
Ông Lực đứng im.
– Trên tàu có ba mươi mốt thứ giống. – Con bé nói tiếp. – Cô Dung nói vậy. Bắp, đậu, khoai, mè, bí, rau. Mấy thứ đó hổng phải con cháu của TL. Bệnh tro hổng ăn được tụi nó. Cô Dung nói vậy.
Cô Dung, đứng sau lưng nó, gật đầu. Chậm, nhưng rõ.
– Vậy gieo hết mấy thứ đó trước. Xen nhau. – Con bé nói. – Rồi lúa của cô Dung thì gieo một khoảnh nhỏ, xa xa, bên kia sông, coi nó có bệnh hông. Rồi lúa của ngoại thì gieo trên đồi, chỗ má con dọn sẵn rồi, cạnh mộ bà Thơm. Năm nay bốn cây. Năm sau bốn trăm. Năm sau nữa… – Nó ngừng, đếm trên đầu ngón tay. – Con hổng biết. Chú Mẫn tính được.
Mọi người quay sang nhìn anh Mẫn.
Anh Mẫn ngẩng lên khỏi cái bảng tính. Anh nhìn con bé. Rồi anh nói, giọng khàn:
– Một cây lúa rẫy chừng sáu trăm hạt. Bốn cây, hai nghìn bốn. Cộng sáu hạt khô. Năm sau gieo hết, mất mát chừng ba phần, ra chừng một triệu hạt. Đủ gieo một rẫy chừng năm sáu công đất. – Anh ngừng. – Năm thứ ba thì đủ cho làng ăn một phần. Không phải ăn no. Ăn có.
Ông Lực đứng đó rất lâu. Rồi ông ngồi xuống.
– Năm nay vẫn đói. – Ông nói. Không phải câu hỏi.
– Năm nay vẫn đói. – Mai Hiên nói. – Đói ít hơn năm ngoái. Có mười tám tấn lương khô. Có bắp, có đậu. Năm sau đói ít hơn năm nay.
Ông Trung cho bỏ phiếu bằng cách giơ tay, như ở làng ngày xưa. Xuyến đếm. Cô quen đếm. Một trăm tám mươi bảy tay giơ cho cái đề nghị của con bé. Cô Hiên và cô Dung đã viết nó lại thành mấy dòng trên một tấm ván, bằng than củi. Ruộng bãi bồi gieo xen các giống không gốc TL. TL-14 gieo trong ô thử cách ly bên kia sông, nhóm giống theo dõi. Ré Mây nhân giống trên đồi Bông Gòn. Mười tám tay giơ cho việc gieo TL-14 trên toàn ruộng. Ông Lực không giơ tay lần nào.
– Còn Ban điều hành? – Ông Trung hỏi, nhìn về phía Xuyến.
Xuyến đứng dậy.
– Tôi viết. – Cô nói. – Con nước sau, hai mươi mốt tháng Hai. Tôi viết làng đã quyết, vì sao làng quyết, tổ lái đề nghị gì. Tôi ký.
– Tôi ký nữa. – Một giọng khàn nói, từ cái ghế tre có tựa lưng.
Mọi người quay lại. Ông Khiêm đã mở mắt.
– Anh bị đình chỉ, anh Khiêm. – Xuyến nói.
– Đình chỉ chức thuyền trưởng. – Ông nói. – Không đình chỉ chữ ký.
Có ai đó trong nhà cười. Rồi nhiều người cười. Cái cười của người đói, mệt, sắp ăn Tết, đã quyết xong một chuyện khó.
Gần nửa đêm, theo giờ Vân Khẩu, cả làng ra bờ sông.
Ở Cồn Xanh, nửa đêm giờ nhà không phải lúc nào cũng là đêm. Ngày ở đây dài hai mươi sáu giờ mười phút, nên đồng hồ nhà với trời ở đây lệch nhau mỗi ngày một chút. Làng giữ lịch nhà từ năm đầu tiên. Ông Trung nói: "Mình đi xa thì mình giữ lịch nhà, không thì lâu quá con cháu không biết Tết là ngày nào." Năm nay may, nửa đêm giờ nhà rơi đúng vào đêm thật.
Trời tối thẫm, có mây, mùi mưa nồng. Không có trăng. Cồn Xanh không có trăng.
Mười một giờ năm mươi mốt, con bé chỉ lên trời.
Một ngôi sao. Không đứng yên như mọi ngôi sao khác. Nó bò. Chậm, đều, từ phía tây sang phía đông, qua giữa hai đám mây.
– Bồ Hai. – Con bé nói.
Toản giơ cái máy liên lạc cầm tay lên. Anh bật loa ngoài.
– Dạ. – Giọng Đụn vang ra, rè rè, nhỏ, giữa tiếng gió từ biển vào. – Đụn đang bay qua đầu làng Bến Mới. Còn chín phút tới giao thừa, giờ Vân Khẩu.
– Chú Đụn. – Con bé nói vào máy. – Chú có thấy tụi con hông?
– Dạ, có mây. Đụn không thấy. Nhưng Đụn biết Đót ở đó.
Xuyến đứng cạnh con bé. Cô nhìn cái ngôi sao bò chậm qua trời. Cô nghĩ tới cái buồng lái, ba cái ghế, cái radio dây cót trong hộc ghế thuyền trưởng, con rô bốt số hai khập khiễng mỗi đêm mười giờ.
Con bé giật tay áo cô.
– Cô Xuyến. Cô hỏi chú Đụn số tám đi.
Xuyến nhìn nó.
– Số tám gì?
– Tiếng bản của cô. – Con bé nói. – Chú Đụn biết. Dòng thứ bảy. Chú Đụn nói chưa ai hỏi.
Xuyến đứng im. Gió thổi tóc cô bay ngang mặt.
Cô cầm lấy cái máy trong tay Toản.
– Đụn.
– Dạ, quyền thuyền trưởng.
– Số tám, tiếng bản Sáo Đá. Nói sao?
Đụn nói. Một chữ có hai âm. Tròn, trầm, như tiếng nước chảy qua khe đá.
Xuyến đứng đó, cái máy trong tay. Cô không nói gì. Cô nhẩm lại cái chữ đó trong miệng, không ra tiếng. Rồi cô đếm. Thành tiếng. Nhỏ thôi. Một tới bảy, những tiếng tròn tròn, trầm trầm, mà cô đã đếm dưới hầm bão, đã hát lúc rước đèn Trung thu. Rồi cô dừng ở chỗ cô vẫn dừng.
Rồi cô đếm tám.
Con bé đếm theo bằng ngón tay. Mai Hiên, đứng sau lưng con bé, không hiểu chữ nào, nhưng cũng đưa tay lên đếm.
– Dạ. – Đụn nói. – Mười hai giờ. Chúc mừng năm mới.
Có tiếng ai đó trong làng đốt một bó đuốc rơm. Rồi bó nữa. Mấy đứa con nít la lên. Con chó vàng sủa. Ở đâu đó cuối làng, có người gõ vào cái nồi đồng, keng, keng, như gõ chiêng.
Và trên trời, giữa hai đám mây, ngôi sao Bồ Hai bò chậm qua, về phía đông, nơi một lúc nữa trời sẽ sáng.
Hạt mưa đầu tiên rơi xuống lúc mười hai giờ bốn phút, đúng vào lòng bàn tay con bé.
— Hết chương 35 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe