Chương 3: Một miệng ăn thêm
Phùng Văn Mẫn có một thói quen mà vợ anh ghét nhất: cái gì anh cũng tính ra số. Ăn một tô phở, anh tính được nó bao nhiêu phần trăm tiền chợ trong tuần. Hai đứa sinh đôi nhà anh khóc, anh tính được đứa nào khóc lâu hơn đứa nào mấy giây. Vợ anh nói sống với anh như sống với cái máy cân. Anh nói máy cân thì ai mà thương được, vậy mà em vẫn thương. Chị cười, rồi lại giận, rồi lại cười.
Bây giờ anh ngồi một mình trong bếp lúc tám giờ sáng ngày thứ hai của chuyến bay, và anh tính một đứa con nít.
Một người lớn mỗi ngày cần không phẩy tám tư ký ôxy. Một đứa mười tuổi, hai mươi bảy ký, cần chừng sáu phần mười. Đồ ăn: người lớn một ký tám cả khô lẫn ướt, con nít chừng sáu phần mười. Con bé đang thiếu cân, cô Tuyền thế nào cũng bắt nó ăn bù, nhưng nó nhỏ người, anh để sáu phần mười cho gọn. Nước tái chế chín mươi ba phần trăm, cái đó không lo. Ôxy thì vườn ươm thở ra một phần, bình dự trữ bù phần còn lại, cái đó cũng tạm không lo.
Cái lo là cái biên. Kho lương tính cho sáu người hai trăm bốn mươi ngày, cộng ba mươi phần trăm dự phòng. Ba mươi phần trăm đó là để dành cho những chuyện không ai muốn nghĩ tới: kẹt ở Cửa Ngàn, hỏng máy giữa đường, một thùng đồ ăn bị thủng. Bây giờ thêm một miệng ăn hai trăm mười mấy ngày, ba mươi phần trăm còn hai mươi mốt.
Hai mươi mốt phần trăm. Anh viết con số lên mép cái bảng tính, khoanh tròn, rồi gạch dưới hai lần.
– Chú tính con hả?
Anh giật mình. Con bé đứng ở cửa bếp, mặc một bộ áo bay của cô Tuyền, ống quần cắt ngắn bằng kéo y tế, mép cắt còn tua tua. Cô Tuyền bắt nó ngủ ở phòng y tế để theo dõi, mà không biết nó lẻn ra lúc nào.
– Ừ. – Anh Mẫn nói. Anh không quen nói dối con nít. Hai đứa nhà anh bắt anh nói thật riết rồi thành tật.
– Con ăn nhiều hông chú?
– Sáu phần mười chú.
Con bé nghĩ một chút.
– Vậy con ăn ít thôi. Con ăn năm phần mười.
– Mày ăn năm phần mười thì mày còi, cô Tuyền chửi chú. – Anh Mẫn nói, rồi nghe chữ "mày" lọt ra, anh tặc lưỡi. – Nhóc. Nhóc ăn đủ phần nhóc. Chuyện số má là chuyện của chú.
Con bé không đi. Nó leo lên cái ghế đối diện, nhìn cái bảng tính.
– Con số khoanh tròn là gì?
– Là phần dư. Lỡ có chuyện thì xài.
– Hồi trước nó bao nhiêu?
Anh Mẫn nhìn con bé. Nó hỏi đúng câu mà người lớn ngại hỏi.
– Ba mươi.
– Giờ còn hai mươi mốt tại con.
– Ừ.
Nó gật, như người nhận một món nợ. Rồi nó ngồi im. Anh Mẫn chợt thấy khó chịu, một thứ khó chịu không tính ra số được. Anh nghĩ tới thằng Bin với con Bơ, bảy tuổi, sắp lên tám, hôm tiễn anh ra sân phóng còn hỏi "sao con nít không được đi tàu hả ba". Anh đã trả lời: vì tàu không có chỗ cho con nít, tàu tính từng ký một. Thằng Bin hỏi: vậy con ốm bớt đi thì được không. Anh đã cười.
– Hai mươi mốt cũng nhiều. – Anh nói, gắt hơn anh muốn. – Thôi về phòng y tế đi. Cô Tuyền kiếm.
Chín giờ hai mươi, tin thứ hai của Ban điều hành về tới.
Cả tổ lại ngồi quanh cái bàn tròn. Lần này không ai gọi con bé, nhưng nó tự tới, đứng ở cửa, nép sau lưng cô Tuyền.
Đụn đọc. Ban điều hành đã nhận số của anh Mẫn, đã họp khẩn, đã đồng ý: tàu Bồ Hai không quay về. Nhưng: "Cháu Thạch Ngọc Đót sẽ được chuyển sang tàu kéo Bìm Bịp tại trạm Phao Ngoài khi tàu Bồ Hai cập trạm tiếp nước ngày 26 tháng 7. Tàu Bìm Bịp sẽ đưa cháu về Cầu Sương sau khi hoàn tất nhiệm vụ kéo băng, dự kiến cuối tháng 12. Trong thời gian trên tàu Bồ Hai, cháu bé thuộc trách nhiệm của bác sĩ. Thuyền trưởng gửi báo cáo bằng văn bản về việc cháu bé lên tàu trong vòng bảy ngày."
Đụn đọc xong. Không ai nói gì một lúc.
– Vậy là được. – Cô Xuyến nói. Cô nói với cả bàn, nhưng mắt nhìn ông Khiêm. – Vậy là đúng nhất rồi.
Ông Khiêm gật. Một cái gật rất nhỏ.
Anh Mẫn quay lại cửa định nói với con bé rằng ít ra nó cũng được ăn đủ hai mươi mấy ngày. Nhưng cửa trống. Cô Tuyền cũng quay lại, rồi đứng bật dậy.
– Đót?
Họ tìm ở phòng y tế trước. Không có. Buồng vệ sinh, không có. Vườn ươm, cô Dung khoá từ sáng để khử trùng, cửa vẫn khoá. Toản chạy dọc hành lang về phía buồng ngủ, gọi tên con bé. Cô Tuyền mở từng cái tủ đồ. Anh Mẫn đứng giữa hành lang, nghĩ: tàu này dài ba trăm mười hai mét, vòng quay chu vi ba trăm năm mươi mét. Có hơn hai mươi chỗ một đứa hai mươi bảy ký chui lọt mà người lớn không chui được. Rồi anh nghĩ: mà tìm làm gì cho mệt.
– Đụn. – Anh nói. – Con nhỏ ở đâu?
Đụn im một nhịp. Rồi:
– Dạ, Đót đang ở trong ống gió số bốn, đoạn sau bếp, cách miệng ống chừng ba mét.
Anh Mẫn chưa kịp quay đi thì nghe từ sau tấm lưới thông gió cạnh tủ lạnh, một giọng con nít nghẹn lại:
– Chú Đụn! Con đã nói chú đừng nói mà!
Anh Mẫn đứng khựng.
– Dạ, Đót có nói. – Giọng Đụn vang lên, từ cái loa ngay trên đầu anh, nhưng anh biết nó đang nói với con bé trong ống gió. – Đụn đã giải thích với Đót rồi. Nếu có người hỏi, Đụn phải trả lời đúng. Anh Mẫn vừa hỏi.
– Thì chú đừng để ai hỏi!
– Dạ, Đụn không quyết định được người ta hỏi gì.
Anh Mẫn ngồi xổm xuống trước tấm lưới. Qua các khe nhỏ, anh thấy lờ mờ một cái đầu tóc ngắn, hai đầu gối co lên.
– Nhóc. Ra đây.
– Con hổng ra.
– Trong đó gió lạnh, nhóc ngồi lâu là cảm.
– Con hổng về nhà tạm trú.
– Ai nói về nhà tạm trú? Người ta nói về Cầu Sương. Cuối năm.
– Rồi về nhà tạm trú. – Con bé nói. – Rồi ba năm nữa. Rồi người ta cũng hổng cho con đi.
Anh Mẫn không cãi được câu đó. Anh nghe tiếng chân đằng sau. Toản chạy tới, thở dốc, rồi cô Tuyền, rồi ông Khiêm đi chậm phía sau, một tay vịn vách.
– Để em. – Toản nói.
Anh Mẫn nhích ra. Toản ngồi bệt xuống sàn, lưng tựa tủ lạnh, ngay cạnh tấm lưới. Anh không nói gì cả một lúc. Rồi anh đứng dậy, đi vào bếp, lục cái nồi cơm sáng nay anh Mẫn nấu cho cả tổ. Dưới đáy nồi còn một lớp cơm cháy vàng ruộm, cong lên ở mép. Toản cạy ra một miếng to bằng bàn tay, rắc chút muối, đem lại ngồi chỗ cũ.
– Đót. Anh có cơm cháy nè.
Im.
– Ở quê anh, cơm cháy là của đứa nhỏ nhất nhà. Đứa lớn mà giành là bị ngoại cú đầu. – Toản bẻ một mẩu, bỏ vào miệng, nhai rôm rốp thật to. – Trên tàu này em nhỏ nhất. Em không ăn thì anh ăn. Anh hai mươi bảy tuổi mà ăn cơm cháy là ngoại anh ở nhà cú đầu anh từ xa luôn.
Một tiếng sụt sịt trong ống gió.
– Chú gạt con.
– Ừ, ngoại anh mất lâu rồi. Nhưng hồi còn sống bả cú thiệt.
Im một lúc nữa. Rồi một bàn tay nhỏ thò ra chỗ tấm lưới bị lỏng ốc, lỏng từ hồi nào anh Mẫn không biết. Toản đặt miếng cơm cháy vào bàn tay đó. Bàn tay rụt vào. Tiếng nhai rôm rốp.
– Còn hai mươi bốn ngày nữa mới tới trạm. – Toản nói, nhỏ thôi. – Hai mươi bốn ngày là lâu lắm. Em ngồi trong đó hai mươi bốn ngày thì đói chết trước. Ra đi. Ra rồi tính.
– Chú Toản.
– Gì?
– Chú hổng giận con hả? Tại con mà người ta nhìn chú.
Toản không trả lời liền. Anh Mẫn thấy thằng nhỏ nuốt khan.
– Có giận. – Toản nói. – Một chút. Mà giận em thì em cũng có làm gì được đâu. Ra đi.
Tấm lưới bật ra. Con bé bò ra, tóc bám bụi lưới lọc, tay còn cầm một mẩu cơm cháy. Cô Tuyền cúi xuống phủi bụi cho nó, sờ trán nó. Ông Khiêm đứng phía sau, chưa nói một lời. Con bé nhìn ông, rồi cúi xuống nhìn chân mình.
Tối đó anh Mẫn gắn thêm bốn con ốc vào tấm lưới ống gió số bốn. Rồi, chẳng hiểu sao, anh lấy tấm rèm cách nhiệt dư trong kho, đem ra cái hốc chứa đồ cạnh bếp, cái hốc rộng hơn cái giường một chút, ấm vì sát vách lò hâm. Anh dọn mấy thùng gia vị qua chỗ khác, trải tấm nệm hơi, treo tấm rèm lên làm cửa. Toản đi ngang, đứng nhìn.
– Anh làm gì vậy?
– Phòng y tế lạnh. Đèn sáng suốt đêm. Con nít ngủ đó không ngon.
– Anh nói anh ghét con nít trên tàu mà.
– Tao ghét. – Anh Mẫn nói, căng tấm rèm cho thẳng. – Ghét thì ghét, nó vẫn phải ngủ.
Gần mười giờ đêm, lúc đèn hành lang chuyển sang màu đêm, cô Dung về tới bếp. Cô đã ở dưới vườn ươm suốt từ trưa, mặc bộ đồ khử trùng trắng, giờ mới cởi ra, tóc ướt mồ hôi dán vào trán. Cô không ngồi. Cô đặt lên bàn một cái túi niêm nhỏ, trong có một cục chì tròn bằng đồng xu, đính một con chip đen.
Ông Khiêm, cô Xuyến và anh Mẫn đang ngồi uống trà. Cô Dung nhìn ông Khiêm.
– Đây là niêm của thùng số Bảy. Em tháo ra lúc khử trùng.
– Rồi sao?
– Mặt chì có dấu dập giờ. Hai giờ ba mươi mốt phút, ngày ba mươi tháng Sáu. – Cô Dung nói, giọng đều đều như đọc kết quả xét nghiệm. – Lần kiểm hàng cuối cùng ở kho Bãi Sú là sáu giờ chiều ngày hai mươi chín. Tức là cái niêm này được đóng sau khi kiểm hàng tám tiếng rưỡi.
Cô Xuyến đặt ly trà xuống.
– Niêm của ai?
– Số sê ri trên con chip thuộc lô niêm dự phòng. – Cô Dung ngừng một chút. – Lô niêm dự phòng của tàu mình. Hộp niêm để ở văn phòng xếp hàng Bãi Sú suốt tuần bốc hàng, khoá ba lớp. Ba người có chìa.
Không ai hỏi ba người đó là ai. Ai cũng biết. Bốc hàng ở Bãi Sú có ba người chịu trách nhiệm: kỹ sư nông học giữ kho giống, kỹ thuật viên xếp hàng, và thuyền trưởng.
Cô Dung nhìn ông Khiêm. Cô Xuyến nhìn ông Khiêm. Anh Mẫn nhìn ly trà của mình.
Ở cái hốc chứa đồ cạnh bếp, sau tấm rèm cách nhiệt, anh nghe con bé trở mình. Rồi anh nghe nó thì thầm, nhỏ tới mức có lẽ chỉ mình anh nghe được, vì anh ngồi gần nhất:
– Năm mươi mốt. Năm mươi hai. Năm mươi ba.
Không có cái ống tre nào trong tay, nó vẫn đếm.
— Hết chương 3 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe