Chương 30: Hai tấn hạt giống bệnh
Cuộc họp ngày một trăm năm mươi hai diễn ra trong phòng y tế, vì thuyền trưởng cũ không được đứng dậy, và quyền thuyền trưởng nói rằng không ai trên tàu này bỏ phiếu sau lưng người khác nữa.
Phòng y tế chỉ chứa nổi bốn người ngồi. Bảy người chen vào. Cô Tuyền đứng ở đầu giường, mắt không rời cái máy bíp bíp. Anh Mẫn và Toản đứng sát vách. Cô Dung ngồi trên cái ghế đẩu. Con bé ngồi trên mép giường, cạnh chân ông Khiêm. Lò Thị Xuyến đứng ở cửa, vì không còn chỗ nào khác để đứng.
– Anh Mẫn. – Cô nói. – Nói lại cho mọi người.
Anh Mẫn nói lại. Hai tấn. Không bỏ hai tấn thì tới nơi ngày ba tháng Hai. Bỏ hai tấn, đốt hết sức từ ngày một trăm năm mươi tám, thì vào quỹ đạo Cồn Xanh ngày hai mươi tám tháng Một. Hai mươi tám tháng Chạp. Làng còn một hai ngày lương. Kịp đầu mùa mưa.
– Bỏ cái gì? – Toản hỏi.
– Tao lập danh sách rồi. – Anh Mẫn nói. Anh đọc, giọng khô như đọc hoá đơn. Lương khô của làng: mười tám tấn, không đụng. Nước: không còn dư một tấn nào, đụng là không hãm được ở đầu bên kia. Đồ dự phòng của tàu, phụ tùng, dụng cụ, rô bốt hỏng, tấm vách dư: gom hết được chừng bốn trăm ký, mà một nửa trong đó là thứ mình sẽ cần nếu có gì hỏng thêm. Cây giống sống: mười hai thùng, nặng mà không bỏ được, làng cần. Hạt giống: sáu tấn.
Anh dừng ở đó. Anh không cần nói tiếp.
– Khoang C. – Cô Dung nói.
Mọi người nhìn cô.
– Hai tấn một trăm ký. TL-14 các lô hai mươi tới hai mươi sáu. – Cô Dung nói. Cô nói như người đọc số lô trên kệ, không lên không xuống. – Hai mươi bảy ngày ở sáu độ dương. Bào tử đã thức dậy. Năm trên tám đĩa. Đó là hai tấn hạt nguy hiểm nhất trên tàu này. Chở nó tới Cồn Xanh là chở một cái kho bệnh tới một làng đã mất hai vụ vì bệnh.
– Ban điều hành lệnh niêm phong vĩnh viễn, đánh giá khi tới nơi. – Cô Xuyến nói. Cô không cãi. Cô đọc lại lệnh, vì phải có người đọc lại.
– Đánh giá cái gì? – Cô Dung nói. – Chị đã đánh giá rồi. Đánh giá xong thì làm gì với nó? Đốt. Ở Cồn Xanh, lò đốt của làng là cái hố đào ngoài bờ sông. Đem hai tấn hạt có bào tử đang sống xuống một cái làng, khiêng nó qua bãi đáp, qua bờ ruộng, để đốt trong một cái hố? – Cô ngừng. – Thả nó ra ngoài kia, ở đây, giữa khoảng không, cách Cồn Xanh ba đơn vị thiên văn, thì không có bào tử nào sống nổi để tới đâu hết.
– Chị Dung. – Toản nói, nhỏ. – Mười một năm.
Cô Dung quay sang nhìn anh.
– Ừ. Mười một năm. – Cô nói. – Cái khoang C đó, chị đứng nhìn người ta đổ từng bao vào, ở Bãi Sú, tháng Sáu. Chị ký từng phiếu. Lô hai mươi hai là lô chị thích nhất. Hạt đều nhất. – Cô nhìn xuống hai bàn tay mình. – Em nghĩ chị không biết đó là mười một năm hả, Toản?
Không ai nói gì.
Lò Thị Xuyến đứng ở cửa, nhìn từng người. Cô nghĩ tới cái bảng cổ tay có hai chữ "Liều. Chờ." gạch rồi viết lại. Cô nghĩ tới con nước cô đã bỏ. Cô nghĩ tới bản tin thứ hai còn nằm trong máy, chưa gửi, chưa xoá.
– Ban điều hành không biết chuyện này. – Cô nói. – Tin của mình sẽ qua cửa ngày mười bốn tháng Mười hai. Trả lời của họ về ngày sáu tháng Một. Nếu chờ họ thì tàu đã đốt xong, không còn gì để quyết. Không có cách nào hỏi họ trước.
– Vậy thì thôi hỏi. – Ông Khiêm nói.
Đó là câu đầu tiên ông nói từ lúc cuộc họp bắt đầu. Giọng ông yếu, khàn, phải dừng lấy hơi giữa câu. Cô Xuyến nhìn ông.
– Anh Khiêm, lần trước anh "thôi hỏi", anh bế một đứa con nít vào thùng hàng.
– Ừ. – Ông nói. – Lần đó tôi thôi hỏi một mình. Lần này cô hỏi bảy người.
Cô Xuyến không trả lời ngay. Cô nhìn ông lâu. Rồi cô gật đầu.
– Tôi đề nghị: thả toàn bộ hàng trong khoang C ra ngoài không gian, trước đợt đốt máy. Quyền thuyền trưởng chịu trách nhiệm. Báo Ban điều hành ở con nước ngày mười bốn tháng Mười hai, kèm toàn bộ dữ liệu, kèm phép thử lá của chị Dung, kèm báo cáo của Quách Thị Nhàn. Ai đồng ý?
Bảy cánh tay giơ lên. Sáu cánh tay người lớn, và một cánh tay nhỏ, giơ cao nhất.
– Mày không có phiếu. – Cô Xuyến nói.
– Con giơ chơi. – Con bé nói.
Có một vấn đề mà Lò Thị Xuyến đã biết từ trước khi vào phòng y tế.
Thả hàng ra không gian là việc rất lớn. Cần hai chìa. Cô giữ thẻ mã chủ, Khiêm đã trả lại cho cô ngay sau khi qua cửa. Cô có chìa hoa tiêu, là dấu vân tay của chính cô. Một người không giữ được hai chìa. Chìa thứ hai, theo luật, có thể là mã Ban điều hành.
Cô không dùng mã Ban.
Cô đã đứng trong buồng lái đêm qua, nhìn dãy mười sáu ký tự mà cô thuộc làu từ đêm ngày mười một, và nghĩ: mã này là lời của Ban. Ban không nói lời này. Dùng mã của họ để làm việc họ không biết là nói thay họ. Ông Khiêm đã làm một việc tương tự, bằng mã chủ, ở Bãi Sú, lúc hai giờ bốn mươi sáng.
Chìa thứ hai phải là một người.
Dấu vân tay không đưa cho ai được. Cái thẻ thì đưa được.
Cô tháo cái thẻ đen khỏi cổ.
Cô định đưa nó cho ông Khiêm. Ông nằm đó, gần nhất, người từng đeo nó trên cổ. Rồi cô thấy cô Dung đứng dậy khỏi ghế đẩu.
– Xuyến. – Cô Dung nói. – Hạt của chị. Chị bấm.
Mười giờ sáng ngày một trăm năm mươi ba, họ đứng ở hành lang trục, trước cánh cửa sơn chữ C màu trắng.
Không phải mọi người. Cô Tuyền ở lại phòng y tế với ông Khiêm. Anh Mẫn và Toản ở khoang máy, chuẩn bị cho đợt đốt. Chỉ có cô Xuyến, cô Dung, và con bé, đứng níu quai vách trong không trọng lực. Con bé xin lên. Cô Xuyến không hỏi vì sao. Cô cho.
Ở cuối hành lang có một ô kính nhỏ nhìn ra mặt bên của tàu, ngay chỗ cửa xả hàng của khoang C. Con bé trôi tới đó, áp mặt vào kính.
– Đụn. – Cô Xuyến nói.
– Dạ, quyền thuyền trưởng.
– Mở cửa xả khoang C ra không gian. Thả toàn bộ hàng. Lệnh thuyền trưởng, theo biểu quyết của tổ lái ngày một trăm năm mươi hai.
– Dạ. Việc thả hàng ra không gian cần hai chìa. Mời xác nhận chìa hoa tiêu.
Cô Xuyến đặt ngón tay lên ô quét.
– Dạ, chìa hoa tiêu hợp lệ. Mời xác nhận chìa thuyền trưởng.
Cô Dung cầm cái thẻ đen. Cô cầm nó bằng hai tay, như cái hôm cô cầm cái kẹp gắp đếm một nghìn hai trăm mười ba hạt lúa. Cô đưa nó lại gần ô đọc thẻ. Rồi dừng.
Cô Xuyến không giục.
– Cô Dung. – Con bé nói, ở đầu kia hành lang, không quay lại. – Con đếm cho cô nghen.
Cô Dung nhắm mắt.
– Ừ.
– Một.
Cô Dung đặt cái thẻ xuống.
– Dạ, hai chìa hợp lệ. Đụn mở cửa xả khoang C.
Không có tiếng gì. Không khí trong khoang C đã được rút ra từ hôm qua, để hạt khỏi bị thổi tung. Chỉ có một tiếng rung rất nhẹ dưới tay vịn, khi cánh cửa xả trượt ra.
– Hai. Ba. Bốn.
Con bé đếm. Cô Xuyến trôi tới cạnh nó, nhìn qua ô kính.
Hạt lúa trôi ra.
Không ào ra như đổ từ bao. Chúng trôi ra chậm, từng dòng, vì Đụn cho cả con tàu xoay thật chậm quanh trục dọc, đủ để đẩy chúng ra khỏi cửa xả như người ta nghiêng một cái thúng. Hàng triệu hạt. Vàng óng. Ra tới chỗ ánh Ông Lửa rọi tới, chúng bắt sáng. Cả dòng hạt biến thành một đám mây lấp lánh màu mật ong, toả rộng dần, mỏng dần, như một đàn đom đóm khổng lồ bay chậm ra khỏi bụi tre lúc chạng vạng.
– Mười một. Mười hai.
Cô Dung trôi tới sau lưng hai người. Cô nhìn qua vai con bé. Cô Xuyến không nhìn cô Dung. Cô nghe tiếng thở của cô Dung, đều, chậm, không gãy.
– Hai mươi. Hai mươi mốt.
Đám mây vàng mỗi lúc một xa. Nó không rơi, vì ngoài kia không có gì để rơi xuống. Nó chỉ trôi, chậm hơn tàu một chút, rồi một chút nữa, rồi tụt lại sau.
– Đẹp. – Con bé nói. Rồi nó quay đầu lại, nhìn cô Dung, như sợ mình nói sai.
– Ừ. – Cô Dung nói. – Đẹp.
Cô đặt bàn tay lên ô kính, cạnh mặt con bé, như người ta đặt tay lên một cái cửa sổ xe lúc xe đã chạy.
– Dạ, khoang C đã trống. Hai tấn một trăm lẻ bốn ký. Đụn đóng cửa xả.
– Năm mươi chín. Sáu mươi. – Con bé đếm. Nó đếm tiếp tới sáu mươi ba, rồi ngừng.
Tối đó, Lò Thị Xuyến ngồi trên buồng lái, mở bản tin thứ hai. Cô đọc lại nó một lần. Rồi cô thêm vào cuối một đoạn. Ngày ba mươi tháng Mười Một, theo biểu quyết của toàn tổ lái, quyền thuyền trưởng đã cho thả toàn bộ hàng khoang C ra không gian, để giảm khối lượng và loại bỏ nguồn bệnh. Chìa thuyền trưởng do kỹ sư nông học Bế Thị Dung giữ theo uỷ quyền. Quyền thuyền trưởng chịu toàn bộ trách nhiệm.
Cô không xoá. Cô cho nó vào hàng chờ con nước. Mười bốn ngày nữa nó sẽ đi.
Ngày một trăm năm mươi tám, sáu giờ sáng, tàu Bồ Hai bắt đầu đợt đốt máy dài nhất của chuyến bay.
Anh Mẫn đã nói trước với cả tàu: đốt hết sức, gần ba tuần, rồi thả trôi, rồi hãm. Lò sẽ chạy ở mức cao nhất mà bơm làm mát số hai cho phép. Để bơm khỏi trở chứng, mọi phần điện dư phải dồn cho hệ làm mát lò.
Tám giờ sáng, Đụn đọc danh sách cắt điện. Đèn hành lang giảm một nửa. Lò hâm trong bếp chỉ chạy giờ cơm. Máy chạy bộ chỉ chạy buổi chiều. Rồi:
– Dạ, đèn vườn ươm giảm một nửa. Mỗi khay chỉ còn bảy giờ chiếu sáng mỗi ngày, thay vì mười bốn.
Con bé đang đứng trong gian một, trước cái khay nhỏ. Bây giờ nhãn trên vách đã được thay. Cô Dung tự tay bóc cái băng keo "TL-14 lô thay", dán một cái mới: "MT-0705-02. Ré Mây. Bốn cây. Gieo ngày chín mươi chín."
Bốn cây lúa đã cao hơn một gang. Mỗi cây bốn năm nhánh. Theo lời cô Dung, chừng hai mươi lăm ngày nữa thì bắt đầu làm đòng, cái tuổi cây lúa cần ánh sáng nhất trong đời.
Đót ngẩng lên. Cây đèn hồng tím trên nắp khay chớp một cái, rồi tắt. Bên trên, một nửa dãy đèn trắng trên trần gian một cũng tắt theo, từng bóng, từng bóng, như người ta đi tắt đèn trong một căn nhà lớn lúc nửa đêm.
— Hết chương 30 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe