Chương 36: Khấc thứ sáu mươi tư
Sáng mùng Một Tết Canh Tuất, đất Cồn Xanh còn ướt mưa, và cây lúa thứ hai trổ bông.
Đót thấy nó trước mọi người. Nó dậy từ lúc trời còn xám, chui ra khỏi cái giường tre nằm chung với má, đi chân đất ra sân. Hôm qua cô Dung cho đem cái khay ra đặt ngoài hiên, trên một cái ghế đẩu, chỗ nắng sớm rọi vào trước tiên. Cô Dung nói bốn cây lúa này đã sống gần bốn tháng dưới đèn, dưới vệt Ông Lửa chạy qua ô kính mỗi hai mươi giây, giờ phải cho tụi nó biết nắng thật một lần.
Mưa đã tạnh. Mái lá còn nhỏ nước tong tong. Đất đỏ trong sân sẫm lại thành màu gan gà. Không khí mát, ẩm, có mùi đất mới ướt, cái mùi mà ở Gò Mây ngoại gọi là mùi trời cho.
Ông Lửa vừa nhô lên khỏi rặng đồi phía đông, to, đỏ, ấm.
Đót đứng trước cái khay. Ở cây thứ hai, cây cao nhất, cái bụng cá căng phồng trên bẹ lá đã nứt ra. Từ trong cái khe nứt, một bông lúa thò ra, mới được nửa. Hạt còn xanh, nhỏ, mềm. Nhưng mỗi hạt đã có một sợi râu. Dài, mảnh, màu đỏ, đỏ như sợi chỉ điều ngoại dùng cột tóc cho nó ngày Tết.
Nắng sớm rọi vào đám râu đỏ, và cái bông lúa mới thò ra một nửa sáng lên như có ai thắp đèn bên trong.
Nó không la lên. Nó không chạy vào gọi má. Nó đứng đó, chân đất trên đất ướt, nhìn. Nó nhớ cái tấm ảnh trong ví ông. Người con gái đứng giữa rẫy, lúa trổ đỏ ối, râu dài phất phơ.
Một lúc sau, nó nghe tiếng chân sau lưng. Má. Rồi tiếng bánh xe nhỏ lạo xạo trên đất. Ông, kéo cái bình ôxy. Rồi tiếng cô Dung, vừa đi vừa cột tóc.
Không ai nói gì. Bốn người đứng quanh cái ghế đẩu, nhìn một bông lúa trổ được một nửa.
– Mùng Một. – Má nói, sau một lúc. Giọng má nghèn nghẹn. – Trổ đúng mùng Một.
Ăn sáng xong, má vào nhà, đem ra một cái ống tre.
Đót đã thấy nó trên màn hình. Cái ống tre trơn láng, màu mật ong, nút lõi bắp không có sáp. Ống của ngoại có một cặp. Ngoại giữ một cái, ngoại đưa má một cái. Cái của ngoại đã vào lò khử trùng của tàu Bồ Hai lúc tám giờ mười một phút sáng ngày chín mươi tám. Cái này là cái còn lại.
Má đặt nó vào tay Đót.
– Ngoại nói khi nào có lúa thì mới khắc. – Má nói.
Đót cầm cái ống. Nó nhẹ, nhẹ hơn cái ống của ngoại nhiều, vì nó rỗng. Nó lật cái ống trong tay, nhìn cái thân trơn láng, không một vết dao.
– Con khắc hả má?
– Con nhớ không?
– Con nhớ. – Đót nói. – Đêm nào con cũng đếm.
Ông Khiêm thò tay vào túi áo, lấy ra một con dao xếp nhỏ, cán gỗ đã mòn bóng. Ông mở lưỡi, lau vào vạt áo, đưa cho nó, cán quay về phía nó.
– Dao của ông ba mươi năm. – Ông nói. – Mũi nó còn bén.
Họ ngồi ngoài hiên, bên cạnh cái khay lúa. Đót ngồi giữa, cái ống tre trên đùi. Má ngồi bên trái. Ông ngồi bên phải, trên cái ghế tre có tựa lưng mà làng đã khiêng từ nhà chung về cho ông. Cô Dung ngồi trên bậc cửa. Lát sau chú Toản tới, rồi chú Mẫn, rồi cô Tuyền, rồi cô Xuyến, ai cũng tự tìm một chỗ ngồi trên hiên, trên bậc, trên đất. Con chó vàng của ông Trung tới nằm dưới chân Đót.
Đót đặt mũi dao lên chỗ gần đáy ống, sát cái mấu tre.
– Một. – Nó nói. – Bà cố khắc. Năm đó ngoại một tuổi.
Nó khắc. Khấc dao đầu tiên nông quá, xiên. Nó khắc lại, sâu hơn, thẳng hơn, dài chừng một đốt ngón tay, như khấc của ngoại.
– Hai. Ba.
Nó khắc chậm. Mỗi khấc một hơi thở, như đếm. Khấc nào ngoại có kể chuyện thì nó kể. Khấc nào nó không biết chuyện thì nó chỉ đếm. Khấc thứ hai mươi, năm nhà có con trâu. Khấc thứ hai mươi ba, năm đồi bị cháy.
Tới khấc thứ hai mươi lăm, nó dừng lại, quay sang ông.
– Ông kể.
Ông Khiêm kể. Ông kể ngắn. Một thằng con trai làng biển, hai mươi hai tuổi, lên Gò Mây đập đá làm đường. Một người con gái trồng lúa rẫy cho nó ăn cơm, dạy nó tưới cây. Gặt xong, người con gái ngồi trước cửa chòi khắc cái khấc thứ hai mươi lăm, thằng con trai đứng sau lưng. Má ngồi nghe, hai tay đan trên đầu gối, không nhìn ông. Nhưng má nghe hết.
– Hai mươi sáu. – Đót nói, rồi quay sang má. – Má kể.
Má nhìn nó. Rồi má cười, cái cười nhếch khoé trái.
– Năm đó má đẻ ra. – Má nói. – Má thì làm sao nhớ.
Ai cũng cười. Đót khắc khấc hai mươi sáu.
Nó khắc suốt buổi sáng. Tay nó mỏi, nó đưa cho má cầm dao một lúc, má không khắc, má chỉ cầm, rồi đưa lại. Nắng lên cao. Con chó vàng đổi chỗ nằm ba lần. Chú Mẫn đi pha trà, đặt một ly nước ấm cạnh Đót, đặt trà cho người khác. Mấy đứa con nít trong làng nghe nói có đứa nhỏ từ trên trời xuống đang khắc ống tre, kéo nhau tới, ngồi xổm ngoài sân nhìn, không đứa nào dám tới gần.
Khấc năm mươi tư, năm nó đẻ. Khấc năm mươi tám, năm má đi trên tàu Bồ Một. Khấc sáu mươi hai, ngoại khắc một mình lúc nó đi học.
Khấc sáu mươi ba, nó dừng lại lâu. Ngoại cầm tay nó khắc cái khấc đó. Nó nhớ bàn tay ngoại, khô, ấm, chai ở mấy đầu ngón, phủ lên bàn tay nó. Nó nhìn sang trái. Nó nhìn sang phải.
Rồi nó đưa cái ống cho má cầm, đưa cán dao cho ông cầm, và đặt tay mình lên trên tay ông.
Ba bàn tay. Một khấc.
– Sáu mươi ba. – Nó nói.
Nó cầm cái ống lên, nhìn. Sáu mươi ba khấc chạy dọc thân tre như bậc thang của kiến. Khấc nào cũng còn trắng, mới, cạnh sắc. Không có khấc nào đen vì tay người. Chưa có.
– Còn sáu mươi bốn? – Chú Toản hỏi.
– Chưa. – Đót nói. – Ngoại dạy gặt xong mới khắc.
Đầu tháng Ba, ngày một tháng Ba theo lịch nhà, mùng Một tháng Hai âm lịch, Đót gặt bốn cây lúa.
Mưa đã về được hơn bốn tuần. Bãi bồi sông Mạ đã xanh: bắp lên ngang gối, đậu leo kín giàn, khoai lan bò sát đất, mè lên xanh, xen nhau từng luống, như cái rẫy của ngoại trải dài ra cả bãi. Bên kia sông, trong mấy ô thử có rào lưới, mạ TL-14 lên đều, xanh nhạt, mềm. Sáng nào cô Dung với má cũng lội qua, soi từng lá. Chưa thấy đốm. Cô Dung nói chưa thấy không có nghĩa là không có. Má nói ừ, mà chưa thấy thì mừng.
Trên đồi Bông Gòn, cạnh mộ bà Thơm, có một khoảnh đất đỏ nhiều đá, má dọn sẵn từ tháng Mười. Bốn cây lúa Ré Mây đã ra đó từ tuần thứ hai sau Tết, cô Dung cho cả cái khay xuống đất, không nhổ, không xới, để rễ khỏi đứt. Bây giờ bốn cây đứng đó, thẳng, cao tới bụng Đót, bông lúa trĩu xuống. Hạt đã chín. Vỏ nâu đỏ như gạch nung, có sọc mảnh màu sẫm hơn. Râu dài, cứng, cong.
Chú Toản không có ở đó. Chú đang dạy mấy đứa nhỏ trong làng nối mạch điện, bật bóng đèn bằng hạt đậu. Chú Mẫn đang ở bờ sông, lắp cái bơm nước. Cô Tuyền đang khám cho bà cụ nhà kế bên. Cô Xuyến đang ở bãi đáp, kiểm cái xuồng. Không ai cần đứng coi. Ai cũng biết.
Chỉ có má, ông, cô Dung, và Đót.
Đót cầm cây kéo. Một tay nắm bó, tay kia cắt sát gốc, cắt xéo, cắt một nhát cho ngọt. Ngoại dạy vậy. Nó đã làm vậy một lần trên tàu, với bốn mươi cây lúa có đòng, qua đôi găng cao su dài tới vai, trước cái lò khử trùng.
Lần này không có găng. Lần này lúa đã chín.
Bốn bó. Nó đặt lên tấm bạt. Má ngồi xuống tuốt. Ông Khiêm không tuốt được, tay ông yếu. Ông ngồi trên một tảng đá, nhìn. Cô Dung đeo găng, gom từng hạt rơi.
Rồi cả bốn người ngồi đếm.
Đếm tới chiều. Đót đếm nhanh nhất. Cô Dung đếm kỹ nhất. Má đếm vừa đếm vừa cười, vì đếm sai hai lần. Ông Khiêm không đếm, nhưng ông nghe, và mỗi lần ai đọc một con số tròn trăm, ông gật đầu.
– Hai nghìn bốn trăm mười tám. – Đót nói.
– Hai nghìn bốn trăm mười tám. – Cô Dung nói cùng lúc.
Cô Dung nhìn nó. Đót nhìn cô Dung. Hai cô cháu cùng bật cười.
Má lấy cái ống tre có sáu mươi ba khấc ra.
Ông Khiêm đưa con dao xếp.
Lần này không ai phải nói ai làm gì. Má cầm ống. Ông cầm dao. Đót đặt tay lên tay ông. Ba bàn tay, ba thế hệ, trên một con dốc đất đỏ. Năm 2070, một ông già ít học tên Sáu Rớt đã nhìn hành tinh này qua khung kính tàu kéo, thấy nó xanh như cái cồn giữa sông nhà ổng.
Mũi dao đặt lên thân tre, ngay trên khấc sáu mươi ba.
Họ khắc.
Rồi má nghiêng cái ống. Đót bốc từng nắm hạt lúa đỏ, thả vào. Hạt chạm vào thành tre, nghe lách tách như mưa nhỏ trên mái tôn. Cô Dung đưa một miếng sáp của phòng thí nghiệm, đã hơ mềm. Má nhét lõi bắp, bọc sáp. Đót ấn ngón tay cái lên lớp sáp còn ấm. Một dấu vân tay, rõ từng đường.
Phần hạt còn lại, hơn một nghìn hạt, má gói vào một cái túi vải. Mùa sau gieo.
Chiều xuống. Ông Lửa ngả về phía đồi tây. Ở phía đông, trên nền trời còn xanh, một ngôi sao nhỏ bắt đầu bò chậm qua.
Đót lấy cái máy liên lạc nhỏ mà chú Toản để lại cho nó, bật lên.
– Chú Đụn.
– Dạ, Đót.
– Chú nghe con hông?
– Dạ, Đụn nghe. Đụn đang bay qua đồi Bông Gòn.
Đót nhìn cái ống tre trong tay má. Sáu mươi bốn khấc. Một dấu vân tay trên sáp.
– Chú đếm với con nghen.
– Dạ.
– Một.
– Một. – Đụn nói.
Nó đếm. Đụn đếm theo. Má đếm theo, bằng ngón tay. Ông Khiêm mấp máy môi. Cô Dung không đếm, nhưng cô không đi đâu cả.
– Sáu mươi ba.
– Sáu mươi ba.
– Sáu mươi bốn. – Đót nói.
– Sáu mươi bốn. – Đụn nói.
Ngôi sao nhỏ bò qua giữa trời. Gió từ sông Mạ thổi lên, lay bốn gốc rạ còn đứng trên đất đỏ.
Đụn im một nhịp. Rồi hai nhịp. Đót biết Đụn sắp làm cái việc Đụn đã làm lần đầu trong cái hốc ngủ cạnh bếp, cái đêm tàu rời trạm Phao Ngoài. Đụn tự hỏi.
– Đót. – Đụn nói. – Khấc thứ sáu mươi lăm, ai khắc?
— Hết —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe