AI Truyện
Ống tre sáu mươi ba khấc qua Cửa Ngàn

🚀 Khoa học viễn tưởng

Cái lồng đèn bằng ống hút

Ống tre sáu mươi ba khấc qua Cửa Ngàn · Chương 15/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 15: Cái lồng đèn bằng ống hút

– …trộn nó vào giống của Quỹ. – Má nói. – Đừng để ai gieo nó chung ruộng với TL. Má cần nó sạch, riêng, làm đối chứng.

Hai mươi ba ngày sau, má nói tiếp câu đang dở, như thể má chỉ vừa nuốt nước bọt.

Trưa thứ Ba, ngày bảy mươi lăm, nước lên lúc mười một giờ bốn mươi. Lần này không phải chờ: phần còn lại của gói tin đã nằm sẵn ở phao bên kia, lọt qua ngay trong mấy phút đầu. Đót đã ngồi trong bếp từ mười giờ, bật tắt chấm đèn đỏ. Nó nghe Đụn nói xong chữ "Đót" thì đã đứng bật dậy.

Lần này đoạn phim ngắn. Hai phút ba mươi giây. Má vẫn mặc cái áo sơ mi vải thô, vẫn ngồi trước cái kệ gỗ. Cái ống tre trơn vẫn đặt trên bàn trước mặt má.

– Đót, má nói cho con hiểu, để con nói lại với cô Dung nếu cô hỏi. – Má nói, chậm hơn lần trước. – Ở đây, lúa bị một thứ bệnh. Má gọi là bệnh tro, vì lá lúa đốm xám như tro bếp. Má nghĩ cái bệnh đó không phải của Cồn Xanh. Má nghĩ nó đi theo hạt giống từ nhà mình qua, nằm im trong hạt, qua tới đây gặp mặt trời khác thì nó thức dậy. Tất cả lúa của Quỹ đều là con cháu của một giống, nên nó bệnh là bệnh hết. – Má ngừng. – Lúa Ré Mây của ngoại không phải con cháu giống đó. Ngoại giữ nó sáu mươi ba năm, không có một hạt lúa Quỹ nào lẫn vô. Má nghĩ bệnh tro không ăn được nó. Má không chắc. Má cần hạt để thử. Vậy thôi.

Rồi má nhìn thẳng vào màn hình. Không phải nhìn Đót. Đót biết, vì má nói:

– Chị Dung. Em là Mai Hiên. Em biết chị. Hồi em học năm ba ở Vân Khẩu, em đọc luận văn của chị về khả năng chịu hạn của lúa TL-9. Em chép tay nguyên một chương. Em biết TL-14 là của chị. Em không nói nó dở. Em chỉ xin chị một chuyện. – Má ngừng. – Giữ một cánh cửa mở.

Đoạn cuối, má lại là má. Má hỏi Đót có tập thể dục không. Má nói ở Bến Mới có một con chó vàng, của ông trưởng làng, hay ra bờ sông Mạ nằm phơi nắng, má sẽ dắt Đót đi coi. Má nói con nước sau má gửi thư nữa. Má nói "Đót của má", rồi màn hình tắt, lần này không bị cắt, tắt đúng lúc má muốn tắt.

Cả bếp im.

– Chị Dung. – Cô Xuyến nói. – Chị đánh giá sao?

Cô Dung đứng dựa vách, khoanh tay. Đót thấy mặt cô tái, nhưng giọng cô vững.

– Giả thuyết. – Cô Dung nói. – Có mô hình lan bệnh đáng chú ý, nhưng không có bằng chứng. TL-14 đã thử kháng bệnh tro ba trăm lần, trên ba trăm mẫu nấm phân lập gửi về từ Cồn Xanh. Ba trăm lần sạch.

– Vậy cái ống tre?

– Đang ở ngăn lạnh cách ly khoang A, niêm riêng, không chung với hàng của Quỹ. – Cô Dung nói. – Cô ấy xin giữ riêng. Tôi giữ riêng. Việc đó tôi làm được.

Cô nhìn Đót khi nói câu cuối. Đót gật. Nó không biết "đối chứng" là gì. Nó chỉ biết má muốn cái ống, và cô Dung đang giữ cái ống, và cô Dung đã hứa.

Tối đó, Đót ngồi trong hốc ngủ, gọi Đụn.

– Chú Đụn. Cái câu chú hỏi con hôm bữa. Vì sao người ta giữ một thứ không ăn được.

– Dạ. Đụn vẫn chờ.

– Con nghĩ rồi. Mà con chưa chắc.

– Dạ. Đót cứ nói phần đã nghĩ.

Đót cắn môi.

– Tại vì… có khi nó không ăn được bây giờ, mà sau này ăn được. Như hạt giống. Bây giờ ăn thì hết. Để dành thì mai mốt có lúa.

– Dạ. Đụn hiểu. Đó là lý do của cô Dung. Nhưng ngoại của Đót giữ sáu mươi ba năm, năm nào cũng gieo, năm nào cũng gặt, năm nào cũng để dành lại. Năm nào cũng ăn được. Vậy cái ống tre giữ cái gì mà không ăn được?

Đót im lâu.

– Con chưa nghĩ tới đó. – Nó nói.

– Dạ. Đụn sẽ chờ tiếp.

Năm ngày sau là Trung thu.

Không ai nhắc tới nó cho tới ngày bảy mươi bảy. Hôm đó anh Mẫn đi ngang qua tấm thời khoá biểu dán trên vách bếp, dừng lại, nhìn tấm lịch nhỏ cô Tuyền vẽ ở góc, và nói như nói với chính mình:

– Chủ nhật này rằm tháng Tám.

Đót đang ăn cháo. Nó đặt muỗng xuống.

– Trung thu hả chú?

Anh Mẫn quay lại, thấy mặt nó, và biết mình đã lỡ miệng. Anh gãi đầu.

– Ừ. Mà trên tàu thì…

Anh không nói hết câu. Vì chú Toản, đang rửa chén ở bồn, đã quay lại, tay còn dính bọt xà phòng, nói:

– Em làm lồng đèn được.

Ba ngày sau đó, cả tàu Bồ Hai lén lút làm Trung thu cho một đứa con nít, và đứa con nít đó biết hết, và giả vờ không biết.

Chú Toản lục kho y tế, lấy được ba bịch ống hút nhựa trong, loại cô Tuyền dùng cho người bệnh uống nước. Chú lấy thêm một xấp giấy lọc từ phòng thí nghiệm của cô Dung, giấy mỏng, trắng đục, ánh đèn rọi qua thì sáng mờ mờ như giấy kiếng. Chú ngồi trong buồng mình hai đêm, cắt, uốn, dán, nối ống hút thành khung một ngôi sao năm cánh. Chú dán giấy lọc lên, cắm một bóng đèn nhỏ bên trong, giống cái bóng chú đã làm cho Đót nhưng to hơn. Rồi chú làm thêm một cái hình con cá, vì chú nói ở quê chú con nít thích lồng đèn cá chép hơn ngôi sao.

Anh Mẫn làm bánh. Không có bột mì, không có trứng thật, không có hạt sen. Anh có lương khô vị đậu xanh, bột trứng, đường, một hũ mỡ lợn đóng hộp và cái lò hâm trong bếp. Anh nghiền lương khô thành bột, nhào với mỡ với đường với nước, cán mỏng làm vỏ. Anh nấu đậu xanh khô thành nhân, sên với đường tới khi đặc dẻo. Anh không có khuôn, nên anh lấy cái nắp hộp sữa bột, khắc lên đó bằng mũi tua vít một bông hoa sáu cánh, ấn lên mặt bánh. Anh nướng hỏng hai mẻ. Mẻ thứ ba ra bốn cái bánh nướng tròn, mặt vàng nâu, hơi nứt, có hình bông hoa méo.

Cô Tuyền lục đồ ăn dự trữ, tìm được một túi mít sấy, một hộp đậu phộng rang, một gói kẹo gừng. Cô bày ra cái mâm nhựa, sắp xếp như sắp mâm cỗ ở nhà.

Cô Dung đóng góp một thứ không ai ngờ. Cô đem từ phòng thí nghiệm ra một nắm cốm. Không phải cốm thật. Là mấy hạt TL-14 hỏng, lép, bị loại ra trong lúc kiểm định, không gieo được. Cô rang chúng trên một cái đĩa thép bằng đèn sưởi trong phòng thí nghiệm, tới khi chúng nổ bung trắng như bông. Cô bỏ vào một cái túi giấy lọc, gấp miệng, đặt lên mâm, không nói gì.

Cô Xuyến không làm gì cả. Ít nhất Đót không thấy cô làm gì.

Ông Khiêm uốn một sợi dây đồng thành cái cán cầm cho lồng đèn ngôi sao, quấn băng keo vải cho khỏi đau tay.

Tối Chủ nhật, ngày tám mươi, mười tám tháng Chín, rằm tháng Tám, lúc tám giờ, đèn trong vòng quay tắt hết.

Đót đứng ở cửa bếp, trong bóng tối, nghe tim mình đập. Rồi trên trần hành lang, ngay chỗ hành lang cong lên trước mặt nó như một con dốc, một vòng tròn sáng hiện ra. Màu vàng nhạt, tròn trịa, mờ ở mép. Một mặt trăng.

– Dạ. – Giọng Đụn. – Đụn dùng đèn vườn ươm và đèn khẩn cấp hành lang, chỉnh phổ sáng và góc chiếu. Theo số đo, cường độ ánh trăng rằm ở nhà là chừng không phẩy hai lux. Đụn chỉnh về không phẩy hai lux. Hình tròn đường kính một mét hai. Quyền thuyền trưởng duyệt thiết kế.

Đót quay lại. Cô Xuyến đứng sau lưng nó, khoanh tay, nhìn mặt trăng giả trên trần.

– Trăng giả mà đẹp. – Đót nói.

– Trăng thật cũng chỉ là đá phản chiếu nắng. – Cô Xuyến nói. Rồi cô khẽ đẩy lưng nó. – Đi đi.

Chú Toản đưa cho nó cái lồng đèn ngôi sao. Bóng đèn bên trong bật lên, giấy lọc sáng mờ, năm cánh sao in bóng lên vách. Cái cán dây đồng ông Khiêm uốn vừa khít tay nó.

Họ rước đèn. Bảy người, hai cái lồng đèn, một mặt trăng giả, đi dọc hành lang cong của vòng quay. Hành lang đi hoài không tới đỉnh, vì nó là một vòng tròn. Đót đi đầu. Chú Toản cầm con cá đi sau. Anh Mẫn vỗ tay làm nhịp trống. Cô Tuyền hát bài rước đèn, giọng nhỏ, run run, rồi chú Toản hát theo, rồi anh Mẫn hát theo, sai lời. Cô Dung không hát, nhưng cô đi theo, tay cầm túi cốm. Ông Khiêm đi cuối, chậm, một tay vịn vách.

Đi hết một vòng, họ lại về tới cửa bếp, chỗ mặt trăng giả vẫn treo trên trần. Đót muốn đi thêm vòng nữa. Cả tàu đi thêm vòng nữa. Rồi vòng nữa.

Vòng thứ ba, Đót nghe sau lưng có một giọng hát khác, trầm, lạ. Nó quay lại. Cô Xuyến đang hát. Không phải bài rước đèn. Một bài nó không hiểu chữ nào, những tiếng tròn tròn, trầm trầm, như tiếng suối, như tiếng mõ. Tiếng của bản. Cô hát nhỏ, mắt nhìn thẳng phía trước, không nhìn ai.

Không ai nói gì. Mọi người đi chậm lại cho hợp nhịp cô.

Ăn bánh xong, anh Mẫn mở cho cả tàu coi đoạn phim thằng Bin với con Bơ gửi lên. Hai đứa nhỏ đội nón giấy, thổi tắt tám ngọn nến trên cái bánh hình con tàu, la lên "Ba ơi, tụi con nghe ba hát rồi, ba hát dở quá". Cả bếp cười ầm. Anh Mẫn cũng cười, rồi lấy tay áo lau mắt, nói tại khói nến.

Gần mười một giờ đêm, mọi người đi ngủ. Đót nằm trong hốc, cái lồng đèn ngôi sao đặt cạnh gối, không bật. Nó không ngủ được. Nó còn no bánh, còn nghe trong tai tiếng hát của cô Xuyến.

Nó nhớ ra nó chưa trả cái lồng đèn con cá cho chú Toản. Chú để quên ở bếp. Nó lấy, định đem xuống vườn ươm treo lên cái giá cạnh khay số hai, cho bốn mươi cây lúa của ngoại cũng có Trung thu.

Vườn ươm để đèn đêm. Nhưng không phải đèn xanh lam như mọi đêm. Đụn chưa tắt mặt trăng. Trên trần gian một, một vòng tròn vàng nhạt mờ mờ chiếu xuống, rơi đúng vào góc có khay số hai.

Ông Khiêm ngồi ở đó.

Ông ngồi trên cái thùng phân trùn, lưng quay ra cửa, đầu cúi. Ánh trăng giả rơi lên mái tóc bạc của ông. Ông đang cầm một cái gì đó trong tay, nhỏ, phẳng, ông nghiêng nó ra phía ánh trăng để nhìn cho rõ.

Đót đi lại gần, nhẹ chân, định gọi ông.

Rồi nó thấy cái ông đang cầm.

Một tấm ảnh. Một tấm ảnh in trên giấy, cũ, mép quăn, màu đã phai sang vàng. Trong ảnh, một người con gái trẻ đứng giữa một rẫy lúa trên đồi đá. Lúa cao ngang ngực cô, bông lúa trổ đỏ ối, râu dài phất phơ. Cô cười, cái miệng bên trái nhếch lên trước. Tay cô ôm trước ngực một cái ống tre.

Đót biết tấm ảnh đó. Nó đã nhìn tấm ảnh đó mỗi ngày trong sáu năm, treo trên vách nhà ở Gò Mây, cạnh bàn thờ, trong cái khung gỗ ngoại tự đóng. Ngoại nói đó là hình ngoại năm hai mươi lăm tuổi. Ngoại nói người chụp tấm hình đó đã đi xa.

Đót đứng sững sau lưng ông, cái lồng đèn con cá trên tay, ánh trăng giả rọi xuống cả hai ông cháu.

– Ông. – Nó nói. – Sao ông có hình ngoại con?

— Hết chương 15 —

Mục lục Ống tre sáu mươi ba khấc qua Cửa Ngàn

  1. 1Giọng nói trong thùng số Bảy13 phút đọc
  2. 2Mười lăm phút của Đụn11 phút đọc
  3. 3Một miệng ăn thêm10 phút đọc
  4. 4Niêm chì không khớp ngày12 phút đọc
  5. 5Nước lên lần thứ nhất10 phút đọc
  6. 6Mưa bụi ngoài vòng quay12 phút đọc
  7. 7Hai chìa khoá11 phút đọc
  8. 8Trạm Phao Ngoài10 phút đọc
  9. 9Hai giờ mười bốn phút sáng11 phút đọc
  10. 10Thuyền trưởng mới10 phút đọc
  11. 11Lớp học không có bảng12 phút đọc
  12. 12Sợi dây buộc bụng10 phút đọc
  13. 13Ba mươi mốt giờ dưới hầm bão10 phút đọc
  14. 14Lá thư qua Cửa Ngàn10 phút đọc
  15. 15Cái lồng đèn bằng ống hút11 phút đọc
  16. 16Tấm ảnh trong ví ông Khiêm10 phút đọc
  17. 17Khoang C10 phút đọc
  18. 18Ai mang tro lên tàu12 phút đọc
  19. 19Lửa trong lò khử trùng12 phút đọc
  20. 20Đêm trong vườn ươm10 phút đọc
  21. 21Bồn số Ba12 phút đọc
  22. 22Danh sách những câu chưa ai hỏi12 phút đọc
  23. 23Lỡ con nước10 phút đọc
  24. 24Phần cơm của đứa nhỏ10 phút đọc
  25. 25Báo cáo bị gác lại11 phút đọc
  26. 26Nước kém10 phút đọc
  27. 27Mép lá viền tím10 phút đọc
  28. 28MT-0705-0211 phút đọc
  29. 29Ông ngoại10 phút đọc
  30. 30Hai tấn hạt giống bệnh10 phút đọc
  31. 31Bốn cây lúa10 phút đọc
  32. 32Đòng trong bụng tàu10 phút đọc
  33. 33Vào quỹ đạo10 phút đọc
  34. 34Xuồng đổ bộ10 phút đọc
  35. 35Họp làng10 phút đọc
  36. 36Khấc thứ sáu mươi tư10 phút đọc

Về truyện này

Ống tre sáu mươi ba khấc qua Cửa Ngàn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →