Chương 31: Bốn cây lúa
– Cây nghiêng theo nắng. – Ông Khiêm nói. – Ngày nào cũng xoay cái khay một phần tư vòng. Không xoay thì nó đổ về một phía, như người đứng lâu một chân.
Ông nói câu đó từ trên giường phòng y tế, hai cái ống nhựa trong mũi, cái máy bíp bíp ở đầu giường. Đót ngồi trên ghế đẩu, ghi vào mặt sau một cái hộp lương khô: xoay một phần tư vòng, mỗi sáng.
Đó là ngày một trăm sáu mươi, ngày thứ ba của đợt đốt máy dài. Đèn vườn ươm còn một nửa. Bốn cây lúa trong cái khay nhỏ chỉ còn bảy giờ chiếu sáng mỗi ngày. Cô Dung đo chiều cao mỗi tối, ghi vào sổ của Đụn. Hai ngày đầu, bốn cây không cao thêm chút nào.
– Ngoại nói lúa thiếu nắng thì lúa ốm. – Đót nói. – Nó cao mà hổng chắc, gió thổi là ngã.
– Ở đây không có gió.
– Hổng có gió mà có lúc tàu đẩy.
Ông Khiêm nhìn nó, rồi gật. Ông nhắm mắt lại. Đót biết ông đang nghĩ. Ông nghĩ lâu hơn trước kia. Cô Tuyền nói tim ông yếu thì đầu ông cũng chậm đi, không phải vì ông lú, mà vì cái gì trong người ông cũng phải đi chậm lại cho đỡ tốn sức.
– Cái ô kính trong bếp. – Ông nói, mắt vẫn nhắm.
Đót không hiểu.
– Ở trục thì sao đứng yên. Ở vòng quay thì sao chạy. – Ông nói. – Mặt trời bên này cũng chạy. Hai mươi giây một vòng. Mỗi vòng nó đi ngang ô kính bếp một lần.
Đót đứng bật dậy.
Chú Toản làm cái giá trong một buổi chiều. Một cái kệ nhỏ bằng nhôm, bắt vít vào vách ngay dưới ô kính tròn trong bếp, vừa khít cái khay nhỏ. Cô Dung đứng nhìn chú Toản làm, mặt nhăn, nói ba lần chữ "nhiễm bẩn", rồi tới lần thứ tư thì chính cô đem cái khay lên, đặt vào, chỉnh cho ngay.
Rồi chú Toản lấy hết vỏ giấy bạc của mấy hộp lương khô cả tàu đã ăn trong năm tháng. Anh Mẫn giữ chúng trong một cái thùng ở kho, không ai biết vì sao, anh nói "để dành, lỡ cần". Chú Toản ép phẳng từng tấm, dán thành một tấm lớn, uốn cong như cái chảo, gắn quanh ba mặt cái khay. Ánh sáng nào lọt vào thì dội lại, không lọt ra.
Mỗi hai mươi giây, ánh Ông Lửa đi ngang ô kính bếp. Một vệt sáng cam đỏ, ấm, rọi qua kính, rọi vào cái chảo giấy bạc, dội lên bốn cây lúa. Sáu giây. Rồi tắt. Rồi mười bốn giây tối. Rồi lại sáu giây.
– Dạ. – Đụn nói, sau một ngày đo. – Tính cả đèn trần còn lại và ánh Ông Lửa qua ô kính bếp, mỗi cây nhận thêm lượng sáng bằng chừng ba giờ đèn mỗi ngày.
– Mười tiếng. – Đót nói. Nó đã cộng. – Còn thiếu bốn tiếng.
– Dạ.
– Vậy cũng được.
Từ hôm đó, bếp của tàu Bồ Hai có một vệt sáng cam đỏ chạy qua mỗi hai mươi giây, và mọi người ăn cơm trong cái nhịp đó. Sáng, tối. Sáng, tối. Anh Mẫn nói như ăn cơm trong cái nhà có ngọn hải đăng bên ngoài. Cô Tuyền nói như ăn cơm dưới gốc cây có gió lay. Toản không nói gì, nhưng Đót thấy chú hay ngồi lại bếp sau bữa, nhìn vệt sáng chạy qua bốn cây lúa.
Mỗi sáng, Đót xoay cái khay một phần tư vòng.
Ngày một trăm sáu mươi hai, bốn cây lúa cao thêm nửa đốt ngón tay.
Tối hôm đó, cô Dung ở lại bếp sau bữa cơm. Trước kia, ăn xong là cô lên trục. Bây giờ cô ngồi lại, đối diện cái khay, cầm cái thước nhựa, chờ vệt sáng chạy qua để đo cho rõ.
– Cháu. – Cô nói, không nhìn Đót. – Chữ "Ré" viết sao?
– Dạ?
– Tên giống. Ré Mây. Cô phải ghi vào sổ giống. Danh mục của Quỹ bốn nghìn sáu trăm tên, cô thuộc hết, không có tên nó. Muốn ghi vào thì phải ghi cho đúng. – Cô ngừng. – Cô không biết "Ré" là chữ gì. Cô không dám đoán.
Đót nghĩ một lúc.
– Ngoại cũng hổng biết. Ngoại nói hồi bà cố, người ta kêu vậy rồi. Ngoại nói cứ viết sao cho đọc lên ra đúng tiếng là được. Còn Mây là Gò Mây.
– Đọc lên ra đúng tiếng. – Cô Dung nói lại. Cô viết lên bảng, chậm, từng chữ. Rồi cô xoá đi, viết lại, cho thẳng hàng.
– Cô Dung.
– Ừ.
– Hạt này chưa có râu đâu cô. Phải trổ bông mới có.
– Cô biết. – Cô Dung nói. Cô nhìn vệt sáng cam đỏ chạy qua bốn cây lúa, rồi tắt. – Cô gãy của nó một cái râu, ngày thứ năm, lúc trả hạt vào ống. Cô chưa nói với cháu.
Đót nhìn cô.
– Ngoại nói râu gãy là hạt buồn. – Nó nói. Rồi nó nói thêm, nhanh, như sợ cô Dung tin thiệt. – Mà con biết hạt hổng buồn.
– Cô cũng biết. – Cô Dung nói. – Cô chỉ muốn nói ra.
Từ hôm tàu qua Cửa Ngàn, Đót nói chuyện với má gần như mỗi ngày.
Không phải nói chuyện như hai người ngồi đối diện. Nó nói một đoạn, Đụn gửi đi. Hai mươi mấy phút sau, má nghe. Má nói một đoạn, Đụn gửi về. Hai mươi mấy phút sau nữa, nó nghe. Một câu hỏi phải gần một tiếng mới có câu trả lời. Nhưng một tiếng ngắn hơn hai mươi ba ngày nhiều lắm, và mỗi ngày lại ngắn hơn một chút.
Má đã đỡ bệnh. Giọng má đã về lại cái giọng nhanh, khàn, quen nói với trăm người ngoài ruộng. Má hỏi bốn cây lúa mỗi ngày. Má bắt Đót chĩa cái máy vào khay, quay từng cây. Má nói Ré Mây mà sống được dưới đèn bảy tiếng thì Ré Mây còn lì hơn má. Má nói má đã đọc phép thử tám mẩu lá của cô Dung chín lần.
Ông Khiêm không nói chuyện với má.
Đót biết vì sao. Nó không hỏi. Ông nằm trên giường, nghe tiếng má từ cái máy của Đót, mỗi chiều. Có hôm má cười, cái cười nhếch khoé trái, ông quay mặt vào vách.
Tối ngày một trăm sáu mươi lăm, ông nói với Đót:
– Cháu ra ngoài đi.
– Dạ?
– Ông nói chuyện với má cháu. – Ông nói. – Một mình.
Đót ra ngoài. Nó ngồi ở hành lang, lưng tựa vách phòng y tế, như chú Toản ngồi cạnh tấm lưới ống gió số bốn hồi ngày thứ hai. Nó không nghe được ông nói gì. Vách dày. Nó chỉ nghe thấy giọng ông, rất thấp, đứt quãng, dừng rất lâu giữa các câu, như người kéo một cái gì nặng lên dốc. Ông nói gần nửa tiếng.
Rồi im.
Cô Tuyền đi ngang, thấy nó ngồi đó, ngồi xuống cạnh nó. Hai cô cháu ngồi chờ.
Đụn đếm giờ cho tin đi và về. Hai mươi bốn phút để tin tới. Rồi má nghe. Rồi má nghĩ, má trả lời. Rồi hai mươi bốn phút nữa.
Một tiếng hai mươi phút sau, Đụn nói:
– Dạ, ông Khiêm. Có tin trả lời của kỹ sư Mai Hiên. Ông muốn nghe một mình không?
Đót nghe ông Khiêm nói "để con bé vô".
Nó vào. Cô Tuyền vào theo, đứng ở cửa. Ông Khiêm nằm đó, cái máy bíp bíp kêu nhanh hơn mọi ngày.
Màn hình nhỏ ở đầu giường sáng lên.
Má ngồi trong một căn phòng tối, chỉ có một cây đèn dầu bên cạnh. Đót chưa thấy căn phòng này trong mấy đoạn phim trước. Không có kệ gỗ, không có lọ hạt. Một vách đất, một cái giường tre. Đót đoán là nhà của má. Má không mặc áo sơ mi vải thô. Má mặc một cái áo cũ, rộng, tóc xoã.
Má không nói gì một lúc. Mười giây. Hai mươi giây. Đót tưởng tin bị hỏng.
Rồi má nói. Giọng má không nhanh, không khàn. Nó chậm, và rất rõ, như người đã ngồi soạn từng chữ.
– Con nghe rồi.
Im.
– Má con chưa bao giờ nói tên ông. Chưa một lần. Má chỉ nói: người đó đi xa. Hồi nhỏ con hỏi, má nói xa hơn trời. Con mười hai tuổi, con hỏi nữa, má nói người đó không biết có con, đừng trách. – Má ngừng. – Con không nghe. Con trách. Con trách hai mươi năm. Rồi tới một năm nào đó con thôi trách, vì trách một người không có mặt mệt quá, mà con còn nhiều việc.
Ông Khiêm nằm im. Đót thấy tay ông nắm lấy mép chăn.
– Con không biết gọi ông là gì. – Má nói. – Con không biết con có muốn gọi ông là gì không. Con cần nghĩ.
Má ngừng lâu. Đèn dầu bên cạnh má lắc lư.
– Ông giữ sức. – Má nói. – Ông còn phải tới đây. Mình nói chuyện thì phải nói trước mặt nhau.
Màn hình tắt.
Ông Khiêm nằm đó. Ông không quay mặt vào vách. Ông nhìn cái màn hình đen rất lâu. Rồi ông nói, với Đót, hay với cô Tuyền, hay với không ai cả:
– Nó nói giống bà.
– Dạ? – Đót hỏi.
– "Mình nói chuyện thì phải nói trước mặt nhau." – Ông nói. – Bà nói câu đó với ông. Năm 2050. Ông nhờ thằng bạn làm đường đưa một lá thư lên rẫy, hỏi bà một chuyện, thay vì tự lên mà hỏi. Bà không trả lời thư. Lúc ông lên, bà nói câu đó.
– Ông hỏi chuyện gì?
Ông Khiêm im lâu.
– Ông quên rồi. – Ông nói.
Đót biết ông không quên. Nó không hỏi nữa.
Ngày một trăm sáu mươi bảy, nước lên ở Cửa Ngàn, ở xa sau lưng tàu. Tin của cô Xuyến đi về nhà, kèm mọi dữ liệu, kèm báo cáo thả khoang C. Không có tin nào của Ban điều hành đi tới. Cô Xuyến nói họ sẽ trả lời ở con nước sau, ngày sáu tháng Một.
Những ngày sau trôi đi trong cái nhịp sáng, tối của vệt Ông Lửa qua ô kính bếp. Tàu đốt máy, nặng đi một chút về phía đuôi. Bốn cây lúa cao lên từng chút một. Mỗi sáng Đót xoay cái khay. Mỗi tối cô Dung đo. Mỗi chiều má hỏi.
Ông Khiêm không nói chuyện với má thêm lần nào. Nhưng chiều nào má gọi, ông cũng bảo Đót mở to tiếng lên.
Ngày một trăm tám mươi, đợt đốt máy dài kết thúc. Tàu thả trôi. Đèn vườn ươm vẫn để một nửa, vì anh Mẫn muốn để dành điện cho đợt hãm cuối. Bốn cây lúa đã cao gần bằng nắp khay. Chú Toản phải nâng cái nắp lên, làm thêm một cái khung, cho chúng có chỗ.
Sáng ngày một trăm tám mươi lăm, Chủ nhật, ngày một tháng Một năm 2090 theo lịch nhà, Đót dậy sớm, ra bếp xoay khay.
Vệt Ông Lửa chạy qua. Sáu giây sáng.
Nó đứng im, tay còn đặt trên mép khay.
Ở cây thứ hai, cây cao nhất, chỗ bẹ lá trên cùng, có một cái gì phình lên. Căng. Xanh. Như cái bụng con cá sắp đẻ.
– Chú Đụn. – Nó nói. Giọng nó nhỏ, như sợ to tiếng thì cái bụng cá kia xẹp mất. – Chú gọi ông giùm con. Chú nói lúa có đòng rồi.
– Dạ. – Đụn nói. – Đụn gọi ông Khiêm. Đụn gọi cả cô Dung.
Một nhịp.
– Đụn gọi luôn má của Đót.
— Hết chương 31 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe