Chương 8: Lò số Hai
Cái chìa bảo trì nằm đúng chỗ ông Gù nói, ngăn dưới cùng hộp đồ nghề của má, buộc một sợi chỉ đỏ. Nhặt mất hai mươi ba giây mới lôi được nó ra, vì tay run tới mức làm rơi cả ngăn kéo xuống sàn.
Ốc vít, mũi khoan, que hàn văng tung tóe. Nó không nhặt. Nó nắm chặt cái chìa trong lòng bàn tay, chạy ra cửa xưởng.
Ông Gù đã ra tới cuối hành lang khu hầm, cách chừng năm chục thước, đi đều, nặng. Hai cái máy TG-9 kia đi sau ông, cách nhau đúng ba bước, thẳng hàng như ba người lính.
– Ông Gù! – Nhặt hét.
Ông Gù không quay lại.
Con bé chạy theo, chạy lên cầu thang sắt hai bậc một, ra hành lang chính vòng Ba. Trên hành lang có những cái máy khác. Nhiều lắm. Chúng đi ra từ cửa các phòng, từ đầu các đường ống, từ gầm các bàn. Máy nâng hàng bốn bánh. Máy nấu ăn cũ bà Năm Lò đã thôi dùng từ ba năm trước. Máy sửa ống nước sáu chân như con nhện. Những cái máy nằm im trong các kho cũ suốt bao năm, giờ mở mắt trắng, lăn ra, bò ra, đi ra, cùng hướng về một phía.
Phía lò số Hai.
Nhặt chen giữa đám máy. Không cái nào để ý tới nó. Chúng chỉ đi. Có một cái máy lau sàn tròn tròn đụng vào chân nó, lùi lại, rồi vòng qua, đi tiếp. Nhặt nhìn xuống. Không phải con Chổi. Con Chổi có vẽ hình cái chổi trắng trên lưng.
Người lớn đứng hai bên hành lang nhìn. Có người khoanh tay. Có người lấy tay che miệng. Một ông thợ cắt già đứng nép vào tường, lúc cái máy sửa ống nước sáu chân đi ngang qua, ông đưa tay vỗ lên cái lưng nó, nói nhỏ: "Thôi, đi đi." Rồi ông quay mặt vào tường.
Lò số Hai nằm cuối vòng Ba, trong một khoang lớn hình vòm, đèn trắng chói. Đầu băng chuyền dài trước cửa lò có một cái bàn kim loại, mấy người thợ mặc đồ chống nóng đứng quanh. Đó là bàn tháo pin. Máy tới đó nằm xuống, người ta mở ngực, tháo viên pin bỏ vào thùng chì, rồi đẩy cái máy lên băng chuyền. Băng chuyền chạy rất chậm về phía cái cửa lò vuông vức đang mở hé, bên trong đỏ rực như mặt trời lặn.
Hàng máy xếp chờ đã dài tới tận cửa khoang.
Nhặt thấy ông Gù. Ông đứng thứ mười một trong hàng. Ông đứng im, lưng gù, mắt trắng, tay mềm buông thõng bên hông.
Nó chạy tới.
Cái lỗ chìa khóa nằm sau gáy ông, ngay dưới cái quạt, cao hơn đầu nó cả nửa thước. Nó nắm quai thùng gom, đu người lên. Tay tuột. Nó lại đu, gác được một đầu gối lên mép thùng, rồi trèo.
– Con nhỏ kia! – Một người thợ ở bàn tháo pin la lên. – Xuống!
Nhặt không xuống. Nó đứng được trên mép thùng gom, hai tay ôm lấy cổ ông Gù. Cổ ông lạnh. Lần đầu tiên trong đời nó, ông Gù lạnh. Cái đường ống nhỏ má đi từ pin ra bàn tay trái, chắc lệnh gọi về đã cắt luôn.
Nó lần tay tìm cái lỗ chìa khóa. Đây rồi. Ngay dưới cái quạt.
– Xuống! Nguy hiểm!
Hai người thợ đã bỏ bàn tháo pin, chạy về phía nó. Cái hàng máy vẫn nhích lên. Ông Gù bước một bước. Nhặt chao người, suýt rơi. Nó cắn môi, đút cái chìa vào. Trượt. Lỗ nhỏ quá, tay nó run quá. Nó đút lại.
Và đúng lúc đó, ở phía bên kia khoang lò, có một tiếng hét.
– Ba tao làm ở đây mười năm!
Mọi cái đầu trong khoang quay về phía đó. Kể cả hai người thợ đang chạy tới chỗ Nhặt.
Thằng Kíp đứng trên băng chuyền, leo lên từ lúc nào không ai thấy. Nó đứng giữa băng chuyền đang chạy, chân dang rộng, hai tay nắm chặt, mặt đỏ tía tai. Băng chuyền đang mang nó từ từ về phía cửa lò đỏ rực.
– Ba tao làm ở đây mười năm! – Nó hét lần nữa. Lần này nó không nói lắp. Một chữ cũng không. – Ba tao chết ở vòng Ba! Cái máy sửa ống nước kia là máy của ba tao! Mấy người đem nó đi nấu thì nấu tao luôn đi!
Cả khoang lò ồn lên. Có người đập vào cái nút đỏ, băng chuyền khựng lại, dừng hẳn. Mấy người thợ bỏ đồ nghề chạy về phía thằng Kíp. Hai người đang chạy tới chỗ Nhặt cũng quay đầu lại.
Nhặt không chờ. Nó đút cái chìa vào lỗ. Lần này vào.
Trái. Ba nấc.
Nấc thứ nhất kêu cạch.
Nấc thứ hai kêu cạch.
Nấc thứ ba kêu cạch.
Dưới tay nó, cái cổ sắt của ông Gù rùng lên một cái. Rồi một tiếng ù rất trầm vang lên từ sâu trong ngực ông, như con mèo lớn đang gừ trong cổ. Cái quạt sau gáy quay. Cái tiếng lách cách khẽ, cái tiếng như ai lần chuỗi hạt, trở lại.
Hai đèn mắt của ông chuyển từ trắng sang vàng chanh.
Ông Gù đứng im giữa hàng máy. Rồi ông ngẩng đầu. Rồi ông quay đầu, quay hẳn ra sau, quay một góc mà người thật không quay được, và nhìn thấy con bé đang ôm cổ mình.
– Con. – Ông nói.
Nhặt òa khóc.
Ông Gù đưa bàn tay mềm lên, gỡ nhẹ hai tay nó ra khỏi cổ ông, nhấc nó xuống, ôm vào ngực. Bàn tay ấy đang ấm dần lên. Nó thấy rõ từng chút ấm, như cái nồi cháo bà Năm Lò mới bắc lên bếp.
– Ông lạnh ngắt. – Nó nói, nghẹn.
– Gù biết.
– Ông không quay lại.
– Gù không quay lại được.
– Ông đi luôn. Ông đi thẳng vô đó.
– Gù biết. – Ông Gù nói lần nữa. Rồi ông bước ra khỏi hàng.
Ông ôm con bé đi ngược dòng những cái máy đang đứng chờ. Không ai chặn. Người ta còn đang bận lôi thằng Kíp xuống khỏi băng chuyền. Nó vùng vẫy, la hét, vẫn không nói lắp chữ nào. Nhặt ngoái lại qua vai ông Gù. Thằng Kíp thấy hai người, ngừng vùng vẫy một giây, rồi hét tiếp, to hơn.
Ở đầu băng chuyền, gần cửa lò, có một người đứng im giữa đám hỗn loạn.
Bác Lẫm.
Bác đứng cạnh băng chuyền, hai tay ôm con Chổi vào lòng như ôm một đứa con nít. Con Chổi nằm im trong tay bác, mắt trắng. Bác không nhìn thằng Kíp. Bác không nhìn ông Gù. Bác nhìn xuống con Chổi.
Rồi bác cúi người, đặt con Chổi lên băng chuyền, đặt rất nhẹ, như đặt một cái gì dễ vỡ. Bác đưa tay vuốt lên cái hình chổi trắng vẽ vụng trên lưng nó. Một lần. Rồi bác đứng thẳng lên, quay đi.
Ông Gù ôm Nhặt ra tới cửa khoang lò thì có người chặn.
Ông Trượng.
Ông ta đứng giữa cửa, một tay cầm cái máy tính nhỏ, tay kia buông thõng. Ông ta nhìn ông Gù, nhìn Nhặt trong lòng ông Gù, nhìn cái chìa bảo trì còn cắm sau gáy ông Gù với sợi chỉ đỏ lủng lẳng. Không có gì trên mặt ông ta. Không giận, không ngạc nhiên. Chỉ mệt.
– Máy số 0447. – Ông ta nói. – Rời hàng.
– Phải. – Ông Gù nói.
– Mày là tài sản của công ty.
– Phải.
– Tao phải báo.
– Phải.
Ông Trượng đứng nhìn ông Gù một lúc lâu. Nhặt thấy ông ta nhìn cái bàn tay mềm màu kem đang ôm lưng nó. Rồi ông ta tránh sang một bên. Một người gầy như ông ta không chặn được một cái máy một trăm bốn mươi lăm ký.
Lúc ông Gù đi ngang qua, ông Trượng đưa cái máy bộ đàm lên miệng.
– Anh Lẫm. Trượng đây. Máy thu gom số 0447 vừa rời hàng chờ lò, đang đi về phía khu hầm.
Bộ đàm rè rè. Rồi giọng bác Lẫm vang lên, khàn đặc:
– Tôi nghe rồi. Tôi đang xử lý vụ thằng nhỏ trên băng chuyền. Anh ghi vào biên bản đi.
Bốn ngày sau đó, Nhặt và ông Gù sống trong bụng Sẻ Đồng.
Không ai xuống hầm mười bốn. Tối ngày mười lăm, lò số Hai nấu xong mẻ máy cuối cùng. Ban Đóng Trạm dán lên cửa hầm một tờ giấy: Niêm phong do có xác tàu xì khí, cấm vào cho tới khi hoàn tất kiểm tra an toàn. Ký tên: Thạch Văn Lẫm. Thằng Kíp lén xuống đọc rồi chui vào tàu kể lại. Nó bị phạt cấm ra khỏi Nhà Chung cho tới ngày tàu sơ tán thứ hai tới, vậy mà đêm nào nó cũng trốn xuống được.
Ngày mười tám, thằng Kíp đem xuống một tin khác.
– Ông… ông Trượng xin mở hầm mười bốn. Bác Lẫm nói quy trình kiểm tra an toàn phải hai mươi bốn giờ. Bác hẹn chín giờ sáng ngày mười chín.
Nhặt nhìn ông Gù. Ông Gù nhìn đồng hồ trong đầu ông.
– Cửa sổ mở lúc sáu giờ. – Ông nói.
– Bác Lẫm biết mà. – Nhặt nói nhỏ.
Không ai trả lời. Cả ba đều biết.
Đêm hôm đó thằng Kíp không về Nhà Chung. Nó ngồi trong buồng lái Sẻ Đồng với Nhặt, hai đứa ăn chung một bao gạo sấy đánh số "ngày không", bao bà Năm Lò làm thêm để ăn trước khi đi. Bà Năm Lò không xuống được. Bà nhờ thằng Kíp gửi xuống một cái hộp nhỏ, trong hộp có hai cái bánh bột đậu còn ấm, một gói muối mè, và một mảnh giấy viết chữ to, nét run: Ăn cho đủ. Đừng có khóc. Tới nhà nhớ nói bà Rỡ là con Ươm có bạn trên trạm.
Năm giờ sáng ngày mười chín tháng Tám, thằng Kíp chui ra khỏi tàu.
Nó đứng ở cửa tàu, nhìn Nhặt. Nhặt nhìn nó. Hai đứa không biết nói gì. Rồi thằng Kíp chìa tay ra. Nhặt nắm lấy. Hai đứa bắt tay như hai người lớn, lắc lên lắc xuống ba cái.
– Tới… tới nơi thì gửi tin về Bích Hải. – Nó nói. Nói lắp lại rồi. – Tao… tao ở trung tâm. Tin đi bốn mươi mốt phút, tao cũng chờ.
– Ừ.
– Đừng… đừng để van nó nứt.
– Ừ.
Thằng Kíp quay sang ông Gù.
– Ông Gù. Ông… ông lái cho đàng hoàng nghe.
– Gù lái đàng hoàng. – Ông Gù nói.
Thằng Kíp lách qua khe cửa hầm, mất hút. Nhặt đóng cửa tàu. Ông Gù ngồi xuống cái ghế lái lớn, cái lưng gù tì vào làm ghế kêu răng rắc. Cái thùng gom ông để lại ngoài hầm, buộc vào một thanh dầm. Qua ô kính, Nhặt thấy nó lơ lửng ở đó, to như cái lu, trống rỗng.
Năm giờ ba mươi, ông Gù bật máy. Tiếng ù ù dưới sàn trầm xuống, rồi to dần, rồi rung cả ghế.
Năm giờ bốn mươi, ông Gù rút hết không khí trong hầm ra. Đèn báo trên vách chuyển sang đỏ. Tấm bạt bạc vá chằng vá đụp trên mình Sẻ Đồng phồng lên, giật ra, bay đi lơ lửng như một con cá đuối khổng lồ.
Năm giờ bốn mươi lăm, ông Gù gọi về phòng điều khiển cửa hầm.
Không ai trả lời.
Năm giờ năm mươi. Ông Gù gọi lần nữa. Vẫn không ai trả lời. Ông Gù tháo dây buộc ghế, đứng dậy, đưa tay phải lên bật thử mỏ cắt. Ngọn lửa xanh lét nhỏ bằng sợi chỉ hiện ra ở đầu mỏ. Ông quay về phía cửa khoá khí của tàu.
– Ông định cắt cửa hả? – Nhặt hỏi.
– Phải.
– Cắt cửa thì sao?
– Cửa hầm mười bốn với hầm mười ba chung một vách. Cắt cửa này, vách đó cong. Hầm mười ba xì hơi. Hầm mười ba không có ai. Gù đo rồi.
Năm giờ năm mươi hai. Bộ đàm buồng lái rè rè.
– Đừng cắt. – Giọng bác Lẫm.
Nhặt chồm người tới.
– Bác Lẫm!
– Đừng cắt. – Bác nói lại. Giọng bác đều, như đọc văn bản. – Bác mở cửa. Không phải vì bác cho phép. Mà vì nếu không mở, con máy của con cắt cửa, cả vách hầm mười ba cong theo, đường ống chính vòng Ba chạy sau vách đó, sẽ xì hơi theo. Bác mở cửa để giữ an toàn cho trạm. Bác sẽ ghi vào biên bản như vậy.
Nhặt không nói được gì.
– Năm giờ năm mươi tám bác mở. – Bác Lẫm nói. – Hai ông cháu có hai phút để ra. Hai phút sau bác đóng.
Bộ đàm im một chút. Rồi giọng bác vang lên lần nữa, lần này không đều nữa.
– Tới nơi thì gửi tin về. Nghe chưa. Bác cũng về Bích Hải chuyến cuối.
Năm giờ năm mươi tám, cánh cửa ngoài của hầm mười bốn, một cánh cửa thép to như mặt sân bóng, tách làm đôi ở giữa, từ từ trượt sang hai bên.
Và ngoài đó là Lão Đồng.
Con mắt bão màu gạch non nhìn thẳng vào mũi tàu. Ánh mặt trời xa xăm chiếu xiên qua rìa Lão Đồng, rạch một đường vàng chói. Nhặt đã nhìn Lão Đồng mỗi ngày trong mười một năm, qua những ô kính dày. Chưa bao giờ nó thấy Lão Đồng trần trụi như vậy, không kính, chỉ có khoảng trống.
Ông Gù đẩy cần lái.
Sẻ Đồng rời khỏi hầm mười bốn, chậm, rồi nhanh dần. Lướt qua mép cửa hầm. Lướt qua bụng trạm. Lướt qua một cái bong bóng kính nhỏ ở mép vòng ngoài, lồng kính số Ba, nơi có một đứa con trai tóc dựng như cái chổi đang áp cả mặt vào kính, hai tay vẫy, vẫy, vẫy.
Nhặt vẫy lại tới khi không còn thấy nữa.
Rồi nó ngồi xuống cái ghế nhỏ có đệm lưng vải hoa, thở ra một hơi dài, dài tới mức tưởng như hơi thở ấy đã nằm trong ngực nó suốt bốn mươi bảy ngày.
– Mình đi rồi, ông Gù.
– Phải.
– Mình đi thiệt rồi.
– Phải. – Ông Gù nói. Ông không nhìn con bé. Ông nhìn ra khoảng trống trước mũi tàu, hai đèn mắt vàng chanh không chớp. Rồi ông nói tiếp, giọng chậm hơn mọi khi.
– Còn một việc Gù chưa nói với con.
— Hết chương 8 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe