Chương 21: Tấm vỏ sơn con sẻ
– Một cái máy thu hồi đi trên tàu công vụ thì phải nằm khoang hàng, chế độ ngủ nông, có dây buộc. – Trượng nói. – Đó là quy định. Ba không đổi được.
– Ngủ nông là sao? – Nhặt hỏi.
– Là vẫn có điện. – Ông Gù nói trước khi Trượng kịp trả lời. – Mắt mờ. Nghe được. Không đi lại. Không quên gì.
Quạt không kêu.
Lúc đó là hai giờ chiều ngày hai mươi chín, ở cái bàn trong cùng quán bà Mười. Bà Mười đã kéo tấm bạt che cửa quán xuống một nửa, treo tấm bảng "nghỉ trưa" dù đã quá trưa lâu rồi, để cho bốn người ngồi nói chuyện. Bốn người: Trượng, Nhặt, ông Gù ngồi bệt dưới đất cạnh chân bàn, và bà Bảy Sầm, người tự kéo ghế ngồi vào mà không ai mời.
– Còn chiếc tàu. – Trượng nói. – Ba không lái được hai chiếc tàu cùng lúc. Ông Gù phải đi trên Mũi Lao. Sẻ Đồng không có ai lái thì nằm lại đây.
– Nằm lại đây thì tao kéo ra bãi bán sắt. – Bà Bảy nói. – Tao nói trước cho bây biết.
– Tàu đó của má con. – Nhặt nói.
– Tàu đó đang bị kê biên. – Trượng nói. Rồi anh im một chút, xoay cái tách trà trong tay. – Mà cái giấy kê biên là ba ký.
Ba người kia nhìn anh.
– Sổ của Ban Đóng Trạm Bến Sắt ghi cô Hà Thị Ươm trả phí chuộc xác chiếc tàu kéo đời Hải Âu trong bốn năm, đủ số. Trong mớ sổ anh Lẫm đưa ba hồi ba mới lên trạm có cả sổ phí chuộc xác. Ba đọc rồi. Thủ tục sang tên chưa xong là vì người chuộc mất trước khi ký tờ cuối. – Anh nói chậm, như đang đọc một biên bản mà mình viết trong đầu. – Ba là cán bộ kiểm kê thu hồi. Ba ghi được: tàu đã trả đủ phí chuộc, quyền giữ tàu thuộc về người thừa kế của người chuộc. Người thừa kế là con.
– Ghi vậy thì anh có sao không? – Bà Bảy hỏi thẳng.
– Có. – Trượng nói. – Công ty sẽ hỏi.
Không ai nói gì một lúc. Nhặt nhìn người đàn ông ngồi đối diện. Đêm qua anh đứng ở cửa phòng khám, hai tay chống lên khung cửa, nói xin lỗi mà không biết xin lỗi ai. Sáng nay anh mặc đồ công ty đứng ở cột tám mươi bảy, đọc thủ tục. Giờ anh ngồi đây, nói sẽ tự ghi một tờ giấy trái ý công ty.
Nó không biết gọi anh là gì. Chữ "chú" nghe sai rồi. Chữ kia thì nó chưa nói được.
– Mà tàu có là của con thì cũng không ai lái. – Nhặt nói nhỏ.
– Phải. – Ông Gù nói.
Bà Bảy Sầm rút cái tẩu ra, gõ đầu tẩu xuống mặt bàn ba cái.
– Vậy thì bán cho tao. – Bà nói.
Nhặt quay sang bà.
– Bà mua?
– Tàu kéo Hải Âu, vỏ còn tốt, máy sửa kỹ, van nứt hai lần. Ở vành đá này đi kéo xác thì còn xài được mười năm. – Bà nói như đọc bảng giá. – Tao trả bốn chục triệu. Cộng tiền công con máy của bây cắt cái Lưng Rùa hai ngày rưỡi, tao tính mười hai triệu. Năm mươi hai. Không trả van, vì van giờ cũng thành của tao.
– Bà… – Nhặt nói. – Hôm trước bà nói người mua sắt chờ không được thì thôi. Lưng Rùa cắt chưa xong.
– Thì tao kiếm thợ khác cắt nốt. – Bà Bảy gắt. – Bây lo chuyện của bây.
Trượng nhìn bà. Bà nhìn lại anh, không chớp.
– Anh đừng tưởng tao tốt. – Bà nói. – Bốn chục triệu là rẻ. Tao lời.
– Tôi không tưởng gì. – Trượng nói.
Nhặt cúi xuống nhìn hai bàn tay mình trên mặt bàn. Năm mươi hai triệu. Nó tính nhanh trong đầu, như ông Gù dạy. Tháo pin ở trạm có phép tốn sáu chục triệu. Năm mươi hai, còn thiếu tám.
Nó ngẩng lên.
– Con bán. – Nó nói. – Mà con xin một thứ.
Buổi chiều đó, ông Gù đứng trên mũi tàu Sẻ Đồng ở cột số Tám mươi bảy, tay phải bật mỏ cắt.
Nhặt đứng ở cầu tàu đá nhìn lên. Bà Bảy đứng cạnh nó, tay khoanh. Trượng đứng xa hơn một chút. Ngọn lửa xanh lét nhỏ bằng sợi chỉ ở đầu mỏ cắt bò chầm chậm quanh một tấm vỏ hình gần vuông ngay trên ô kính buồng lái. Ông Gù cắt chậm, rất chậm, chậm hơn bất cứ lần nào Nhặt thấy ông cắt. Ông cắt cách mép con chim sẻ đúng một gang tay, để không có nét sơn nào bị cháy.
Tấm vỏ rời ra. Ông Gù đỡ nó bằng bàn tay mềm, hạ xuống, đưa cho con bé.
Nó nặng hơn nó tưởng. Một tấm thép dày cỡ đốt ngón tay, to bằng cái mâm cơm. Một mặt là con chim sẻ sơn nâu sơn vàng đứng trên cọng lúa cong, đầu nghiêng như đang nghe ai gọi, bên dưới có ba chữ trắng Sẻ Đồng. Cái đầu hơi to. Cái mỏ hơi lệch. Giọt sơn chảy xuống khô lại như giọt nước mắt vẫn còn đó. Mép tấm thép còn nóng, ông Gù đã dặn đừng cầm ở mép.
– Mũi tàu thủng thì sao? – Nhặt hỏi.
– Gù hàn tấm khác vào. – Ông Gù nói. – Thép trơn. Không có chim.
Nhặt ôm tấm vỏ vào ngực. Nó không khóc. Nó chỉ đứng đó ôm con chim sẻ của má, nhìn cái lỗ vuông trên mũi tàu, nơi lộ ra một mảng khung sườn bên trong, như một chỗ người ta vừa nhổ răng.
– Tao sẽ không sơn tên khác. – Bà Bảy nói, không nhìn con bé. – Tàu này vẫn tên Sẻ Đồng. Tao chỉ không vẽ chim. Tao vẽ xấu.
Tối hôm đó Nhặt vào Sẻ Đồng lần cuối.
Ông Gù đi với nó. Hai người đi từ buồng lái tới buồng máy, chậm, như đi đưa đám. Nó gom những gì phải gom. Hai cái hũ tro bọc trong áo khoác xanh cổ vịt. Hộp thóc vỏ bình khí hàn, nắp khắc con sẻ, lấy ra từ cái tủ lạnh nhỏ, chờ mười lăm phút cho hết đọng sương. Túi vải trồng rau mầm, còn một nhúm mầm non. Mấy bao gạo sấy còn lại, từ số ba mươi lăm trở đi, bà Năm Lò đánh số bằng bút dầu. Cái đệm lưng may bằng vải hoa trên cái ghế nhỏ, nó tháo ra, gấp lại. Cái ghế má đo cho nó, nó không mang theo được.
Rồi nó đứng trước màn hình buồng lái.
– Ông Gù. Lời nhắn của má.
– Gù chép rồi. – Ông Gù nói. – Từ hôm ở hầm mười bốn. Trong thẻ nhớ trong ngực Gù. Cái thẻ đó không phải lõi nhớ. Mất điện không xóa.
Quạt không kêu.
– Ông mở cho con nghe lần nữa được không?
Ông Gù bấm. Trong buồng lái Sẻ Đồng, lần cuối, có tiếng rè rè, có tiếng hắng giọng, có tiếng cười khúc khích, có tiếng "trời đất, mở chưa đây ông Gù". Nhặt ngồi xuống cái ghế nhỏ không còn đệm, nghe từ đầu tới cuối. Tới câu "mấy chuyện má không đủ gan nói, má để ông Gù giữ giùm", nó quay lên nhìn ông. Ông Gù đứng sau lưng cái ghế, bàn tay mềm đặt lên đỉnh đầu nó, đúng chỗ ông đặt hôm đầu tiên.
Lần này nó nghe hết mà không bịt miệng.
– Má không đủ gan. – Nó nói khi tiếng rè rè hết. – Vậy mà má sửa cái tàu sáu năm.
– Phải.
– Con cũng không đủ gan, ông. Tối qua con không nói với chú Trượng.
– Gù biết.
– Má có giận con không?
Ông Gù im một chút.
– Cô Ươm không giận ai lâu. – Ông nói. – Cô Ươm chỉ giận bà Rỡ, mà giận cũng không lâu. Mười ba năm.
Nhặt bật cười, cái cười bật ra lẫn với nước mũi. Mười ba năm mà không lâu. Chỉ có ông Gù mới nói được câu đó mà quạt không kêu.
Sáng ngày một tháng Mười, Mũi Lao rời Hòn Lăn.
Trước đó một giờ, bà Duyên tới cầu tàu số Mười hai. Bà đưa cho Nhặt một cái túi giấy đựng thuốc, cuộn băng, một tờ giấy ghi cách thay băng và một cái thẻ nhớ nhỏ, hồ sơ y tế của nó. Bà dặn tới Vành Ngọc thì cắt chỉ. Rồi bà quay sang Trượng.
– Anh làm cha thì làm từ từ. – Bà nói, giọng khô như mọi khi. – Nó có người nuôi mười một năm rồi. Anh tới sau.
Trượng gật đầu. Anh không cãi.
Bà Mười tới, dúi cho Nhặt một bó mì khô gói giấy dầu, nói ăn trên tàu, đừng có ăn sống. Ông già dán đèn lồng tới, đưa cho nó một cái đèn lồng giấy nhỏ xíu bằng nắm tay, màu đỏ, gấp dẹp lại được. Ông thợ quặng già tới, không đưa gì, chỉ đứng vỗ vai ông Gù hai cái, như ông thợ cắt ở Bến Sắt vỗ lưng cái máy sửa ống nước sáu chân.
Bà Bảy Sầm tới cuối cùng. Bà đứng ở đầu cầu tàu, dưới cái đèn lồng trắng của thằng Tư.
– Tiền tao chuyển cho cha bây rồi. – Bà nói. – Năm mươi hai. Đủ.
– Dạ.
– Bây về tới nhà thì nhắn tao một tiếng. – Bà nói. Rồi bà hất cằm lên cái đèn lồng trắng. – Ở đây tàu đi xa về thì treo đèn đỏ. Bây nhắn về, tao treo cho bây một cái ở cột tám mươi bảy.
– Bà treo cạnh cái đèn của anh Tư được không bà?
Bà Bảy nhìn nó. Mặt bà không có gì. Rồi bà quay lưng đi, không trả lời. Nhặt nghĩ chắc là được.
Mũi Lao lớn hơn Sẻ Đồng gấp ba. Nó có một buồng lái rộng, hai buồng ngủ có cửa đóng, một gian bếp nhỏ, một khoang hàng ở đuôi. Nó chạy tự động gần hết, không có người lái nào khác ngoài Trượng. Trong buồng ngủ của Nhặt có một cái giường thật, có túi ngủ thật buộc vào vách, có một cái cửa sổ tròn nhìn ra sao.
Khoang hàng thì lạnh. Đèn chỉ bật một ngọn. Ông Gù nằm ở đó, trên một cái giá thép sát vách, bốn sợi dây đai vàng buộc ngang người, hai đèn mắt vặn xuống thành hai đốm cam mờ như than gần tàn. Trượng gắn một sợi dây điện từ ổ cắm của tàu vào cổng sạc sau lưng ông, nói cho chắc, dù ông chạy pin đồng vị. Rồi anh ghi vào máy tính: máy thu hồi số 0447, chế độ ngủ nông, khoang hàng, đang đưa về cảng Vành Ngọc.
Nhặt đứng ở cửa khoang hàng, ôm tấm vỏ sơn con sẻ, nhìn.
– Ông nghe con không ông Gù?
– Nghe. – Giọng ông nhỏ, chậm hơn mọi khi, như nói trong mơ.
– Ông lạnh không?
– Không.
Quạt không kêu. Nhặt dựng tấm vỏ con sẻ vào vách, ngay dưới chân cái giá ông Gù nằm, rồi buộc nó bằng một sợi dây an toàn. Rồi nó về buồng ngủ của nó.
Đêm đó, giờ tàu, mười hai giờ bốn mươi, Trượng đi kiểm tra một vòng như anh vẫn làm mỗi đêm trên mọi chuyến tàu suốt bảy năm. Buồng lái. Máy lọc khí. Bồn nước. Buồng ngủ của con bé, anh đứng ngoài cửa nghe, không mở. Rồi khoang hàng.
Cửa khoang hàng mở hé.
Anh đẩy cửa. Trong ánh sáng của ngọn đèn duy nhất, anh thấy cái máy gù lưng nằm trên giá thép, bốn sợi dây đai vàng, hai đốm cam mờ. Và sát bên cái giá, buộc mình vào một cái quai trên vách bằng chính sợi dây an toàn màu cam mà nó đã giữ cho cái máy ở xác tàu Lưng Rùa, là con bé. Nó nằm co, quấn trong cái áo khoác xanh cổ vịt dài quá gối, đầu gối lên tấm đệm vải hoa gấp đôi. Nó ngủ say. Tay phải nó luồn qua khe hai sợi dây đai, nắm lấy bàn tay trái mềm màu kem của cái máy.
Trượng đứng ở cửa.
Anh đứng đó lâu, lâu tới mức máy lọc khí trong khoang hàng chạy hết một chu kỳ, tắt, rồi chạy lại. Rồi anh đi về buồng ngủ của mình, lấy cái túi ngủ thứ hai, mang ra, đắp lên người con bé, buộc hai góc túi vào cái quai trên vách cho nó khỏi trôi.
Hai đốm cam trên mặt cái máy không đổi. Nhưng anh biết nó nghe. Nó luôn nghe.
Anh không nói gì với nó. Anh quay đi. Ra tới cửa, không để ý, anh ngân nga trong cổ một cái gì đó, rất nhỏ, như tiếng máy lạnh rì rì. Rồi anh nghe thấy chính mình đang ngân, và anh dừng lại ở cái nốt thứ hai, đứng im trong hành lang tối.
— Hết chương 21 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe