Chương 34: Gần bốn giờ không điện
Trượng là người đứng dậy trước.
– Tôi đi lấy bộ sạc. – Anh nói.
– Đường đê ngập. – Thằng Lộc nói. – Chú qua không được.
– Có xuồng không?
Thằng Lộc nhìn anh. Rồi nó gật đầu.
– Nhà con có cái xuồng ba lá. Tới đoạn Gò Sậy thì chống xuồng qua chỗ ngập. Qua bên kia là đường cao, có nhà ông Tám bán tạp hóa, ông có xe máy. Con dẫn chú đi.
– Không. Mày ở đây. – Trượng nói. – Mày kéo cái máy phát ra đây. Cái máy bơm hôm qua tôi sửa đó. Đổ đầy dầu. Nổ sẵn. Tôi về là cắm liền.
Anh quay sang con bé đang quỳ trước cái máy tắt, hai tay áp bàn tay mềm vào má mình.
– Hai giờ. – Anh nói. – Quá hai giờ là bắt đầu quên. Ba ráng về trước bốn giờ. Không kịp thì ba ráng về sớm nhất có thể.
Nhặt không trả lời. Nó không ngẩng lên.
Trượng đi. Anh chạy xuống cầu thang đá, chạy qua bà Rỡ đang đứng giơ ngọn đèn dầu ở chân cống, chạy vào bóng tối và mưa. Thằng Lộc chạy theo một quãng, chỉ đường tới cái xuồng, rồi quay lại.
Sáu người khiêng ông Gù xuống khỏi mặt cống. Một trăm bảy chục ký. Họ khiêng bằng hai cây đòn tre luồn dưới nách, dưới đầu gối, đi từng bước trên cầu thang đá trơn, gió thổi muốn lật. Họ đưa ông vào cái chòi giữ cống sát chân cống, một cái chòi nhỏ vách ván mái tôn, có một cái chõng tre, một cái đèn bão treo trên vách. Đặt ông nằm xuống nền đất, lưng tựa vào chân chõng, vì chõng không chịu nổi sức nặng.
Thằng Lộc với hai ông thanh niên chạy đi kéo cái máy phát.
Trong chòi còn lại bốn người. Nhặt. Bà Rỡ. Bác Lẫm. Anh Huân.
Anh Huân đứng ở góc chòi, hai bàn tay trầy xước để buông thõng, cái áo sơ mi trắng giờ đã bê bết bùn. Anh ta nhìn cái máy nằm dưới đất, nhìn con bé, nhìn bà già, nhìn ông trưởng ban đóng trạm. Anh ta không biết mình nên làm gì. Anh ta chưa bao giờ ở trong một căn phòng mà không có giấy.
– Anh coi giờ giùm. – Bác Lẫm nói với anh ta, đưa cái đồng hồ đeo tay của mình. – Mười phút đọc một lần. Tay tôi run.
Anh Huân cầm cái đồng hồ.
– Hai giờ mười. – Anh ta đọc.
Nhặt ngồi xuống cạnh ông Gù. Nó ngồi bên trái, chỗ bàn tay mềm buông xuống nền đất. Nó nhặt bàn tay ấy lên, đặt vào lòng mình. Lạnh rồi.
Nó định kể. Nó đã hứa. Mà nó mở miệng ra thì không biết bắt đầu từ đâu. Cái gì cũng quan trọng. Cái gì cũng phải kể trước.
– Kể từ cái cũ nhất. – Bà Rỡ nói.
Nhặt ngẩng lên.
– Nó quên cái cũ nhất trước. – Bà nói. – Thì kể cái cũ nhất trước.
Bà ngồi xuống cái chõng tre, ngọn đèn dầu để bên cạnh. Bà nhìn cái máy gù lưng nằm dưới chân mình. Rồi bà kể.
– Năm hai trăm sáu mươi hai, mày tới làng này. – Bà nói. – Người ta chở mày tới bằng xe tải, trên lưng mày có cái bồn bơm nước. Tao mười sáu tuổi. Tao đứng trên đê coi. Mày bước xuống xe, mày đi thẳng ra cái cống, mày đứng đó. Cả làng ra coi. Có thằng con nít hỏi mày tên gì. Mày nói số hiệu. Dài thòng, không ai nhớ. Ông già trưởng xóm nói, cái lưng nó gù vậy thì kêu ông Gù.
Bà kể chậm. Bà kể như người ta đọc từng hạt trong chuỗi. Năm hai trăm sáu mươi tám mày vớt thằng Năm Đen té xuống kênh. Năm hai trăm bảy mươi mày dạy cả làng ngâm thóc giống ba sôi hai lạnh. Năm hai trăm bảy mươi ba con Ươm ra đời. Năm hai trăm bảy mươi lăm ba nó mất, tao ra đồng, nó ngồi với mày ở cái cống này. Năm hai trăm bảy mươi chín nó khắc tên nó lên lưng mày. Năm hai trăm tám mươi mốt người ta chở mày đi. Con Ươm chạy theo xe tới bến phà.
– Hai giờ hai mươi. – Anh Huân đọc.
Bà Rỡ im. Bà nhìn bác Lẫm.
Bác Lẫm ngồi xuống cái thùng gỗ ở góc chòi. Bác gỡ kính ra, cầm trong tay.
– Năm hai trăm tám mươi mốt mày lên Bến Sắt. – Bác nói. – Tôi cũng lên năm đó. Hai mươi tám tuổi. Hồi đó trạm có ba nghìn người. Có hai chục cái TG-9. Mày là cái duy nhất gù. Người ta sửa cái bồn bơm sau lưng mày thành cái thùng gom. Không ai gọi mày bằng tên. Người ta gọi số. Không bao giờ ai nhớ số mày. Người ta gọi mày là cái TG-9 gù.
Bác kể. Bác kể như đọc văn bản. Năm nào mày cắt được bao nhiêu tấn, bác nhớ, vì bác ký sổ. Năm nào mày hư cái gì, bác nhớ. Năm hai trăm chín mươi mày kéo được một ông thợ hàn bị đứt dây an toàn ngoài vỏ trạm vào, ông đó sống. Tháng Ba năm hai trăm chín mươi sáu, mày nằm ở xưởng kiểm tra pin, trạm mất điện chín tiếng.
– Đêm đó vợ tôi mất. – Bác nói. – Sáng ra, tôi đi ký biên bản. Tôi đi ngang qua xưởng. Mày đứng đó. Người ta hỏi mày nhớ gì, mày nói không nhớ. Tôi đứng ở cửa xưởng nhìn mày. Tôi nghĩ, cái máy này may. Nó quên được.
Bác dừng lại. Bác nhìn xuống cái máy.
– Tôi nghĩ vậy là sai. – Bác nói.
– Hai giờ ba mươi. – Anh Huân đọc. Giọng anh ta nhỏ hơn.
Bác Lẫm nhìn sang Nhặt.
– Năm hai trăm chín mươi bảy, tháng Mười, má con lên trạm. – Bác nói. – Tới đó là của con.
Nhặt cúi xuống. Nó nhìn cái mặt ông Gù. Hai cái đèn mắt tắt. Không phải tắt như lúc ông ngủ nông, còn hai đốm cam. Tắt hẳn. Hai cái kính tròn tối om, phản chiếu ánh đèn dầu thành hai đốm vàng nhỏ xíu, không phải của ông.
Nó kể.
Nó kể chuyện má lên trạm đi tàu tiếp tế ói suốt ba mươi ngày. Chuyện má đi lạc ở vòng Hai, đứng khóc giữa hành lang, có một cái máy gù lưng chỉ đường. Chuyện má thấy cái lưng gù, đứng sững. Chuyện má hỏi số hiệu, rồi hỏi người ta gọi nó là gì. Người ta nói cái TG-9 gù. Má nói không phải. Ông Gù. Má là người đầu tiên trên trạm gọi ông là ông Gù.
– Hai giờ bốn mươi.
Nó kể chuyện má chà sơn lưng ông năm hai trăm chín mươi tám, thấy chữ, ngồi im lâu, rồi sơn lại. Chuyện má mang thai. Chuyện đêm mười bốn tháng Tư. Bốn mươi phút. Đứa bé không khóc. Chuyện cái nôi số bảy, ngày thứ mười tám, đèn xanh, loa hát. Chuyện con khóc, má ngồi dậy. Chuyện má khắc ngày lên cái hũ nhỏ bằng mũi kim khâu.
Nó kể chuyện cái bàn tay.
Ngoài chòi, có tiếng máy nổ phành phạch. Thằng Lộc với mấy ông thanh niên đã kéo được cái máy phát ra tới chân cống, che một tấm bạt lên. Thằng Lộc thò đầu vào chòi.
– Nổ rồi. – Nó nói. – Chờ chú Trượng.
– Ba giờ. – Anh Huân đọc.
Nhặt kể tiếp. Nó kể không ngừng. Giọng nó khàn đi, rồi rè đi, rồi có lúc mất tiếng, nó nuốt nước bọt rồi kể tiếp. Bà Rỡ rót nước chè trong cái bình thủy ra cho nó uống, nó uống một ngụm rồi kể tiếp. Nó kể chuyện cái thùng gom lót chăn. Chuyện hồi nó hai tuổi chữ đầu tiên nó nói là "Gù". Chuyện ông dạy nó đếm ốc vít. Chuyện cái quạt. Chuyện má nói quạt kêu là ông xạo.
– Ba giờ hai mươi.
Nó kể chuyện Sẻ Đồng. Năm ba trăm lẻ năm. Hầm mười bốn. Chuyện má vẽ con chim sẻ ba buổi tối. Chuyện má ho mà không ho trước mặt nó, ho ở dưới hầm, uống nước ấm cho đỡ khàn rồi mới về phòng.
– Ba giờ bốn mươi.
Nó kể chuyện má mất.
– Bốn giờ. – Anh Huân đọc.
Không ai nói gì. Nhặt ngừng kể. Nó nhìn bàn tay mềm trong lòng mình. Nó không biết bây giờ là cái gì đang mất. Hai trăm chín mươi tám. Cái ngày má chà sơn. Chữ ƯƠM. Nó không biết.
– Kể tiếp đi con. – Bác Lẫm nói. – Đừng ngừng.
Nó kể tiếp. Nó kể chuyện đóng trạm. Chuyện bốn ký. Chuyện bà ngoại nói không có cháu. Chuyện lò số Hai. Thằng Kíp đứng trên băng chuyền.
– Bốn giờ hai mươi.
Hai trăm chín mươi chín, nó nghĩ. Ba trăm. Cái nôi.
Nó kể chuyện Hòn Lăn. Bà Bảy Sầm. Tô mì đầu đời. Rau mầm. Khoang số Ba.
– Bốn giờ bốn mươi.
Ba trăm lẻ một. Cái bàn tay.
Bà Rỡ đứng dậy khỏi cái chõng tre. Bà đi ra cửa chòi, đứng nhìn ra con đường đê tối om ngập nước. Bác Lẫm đứng dậy theo, đứng sau lưng bà.
– Năm giờ.
Ba trăm lẻ ba. Ba trăm lẻ bốn. Con mấy tuổi rồi, nó nghĩ. Ông còn nhớ con từ hồi con mấy tuổi.
Nó không kể được nữa. Giọng nó tắt hẳn. Nó chỉ ngồi đó, ôm bàn tay mềm vào ngực, cúi đầu, môi mấp máy mà không ra tiếng. Nó vẫn kể. Không ai nghe được. Nó kể bằng môi. Nó kể chuyện Mũi Lao. Chuyện ba hát đoạn hai. Chuyện Trăng nhỏ như cái móng tay. Chuyện mưa.
– Năm giờ hai mươi. – Anh Huân đọc. Giọng anh ta đứt quãng.
Ba trăm lẻ năm. Sẻ Đồng. Hầm mười bốn.
Năm giờ ba mươi.
Ngoài kia, có tiếng xe máy. Xa. Tiếng máy rú lên, tắt, rú lên, như cái xe đang lội nước. Rồi gần hơn. Rồi có ánh đèn pha lắc lư trên con đường đê, chói lòa trong mưa.
Nhặt ngẩng lên.
Chiếc xe máy thắng lại ở chân cống, ngã nghiêng xuống bùn. Người lái nhảy xuống. Trên yên sau có một cái hộp sắt to bằng cái thùng gạo, buộc bằng dây thừng, phủ một tấm áo mưa. Người đó ướt từ đầu tới chân, ống quần rách toạc một bên, đầu gối chảy máu. Anh ta không dừng. Anh ta cởi dây thừng, ôm cái hộp sắt bốn chục ký vào ngực, chạy lảo đảo về phía cái chòi.
Nhặt đứng bật dậy. Nó chạy ra cửa chòi. Nó không nghĩ. Câu ấy tự bật ra khỏi miệng nó, bật ra bằng cái giọng đã mất tiếng, rè, vỡ, mà to hơn tiếng gió.
– Ba!
Trượng khựng lại giữa đường bùn. Chỉ một giây. Cái hộp sắt trong tay anh suýt tuột. Rồi anh chạy tiếp.
– Ba ơi lẹ lên! Năm giờ ba mươi lăm rồi!
Trượng chạy vào chòi. Anh đặt cái hộp sắt xuống nền đất cạnh ông Gù. Tay anh run tới mức lôi sợi cáp ra mà làm rơi hai lần. Thằng Lộc kéo sợi dây điện từ cái máy phát vào. Bác Lẫm cầm đèn soi. Trượng cắm sợi cáp to bằng cổ tay vào sau gáy ông Gù. Cắm sợi dây từ máy phát vào cái hộp sắt.
Anh gạt cái cần đồng.
Ba cái kim nhảy lên. Cái hộp sắt kêu ù ù, rung nhẹ.
Không có gì xảy ra.
Mười giây. Hai mươi giây.
Rồi hai cái kính tròn trên mặt ông Gù sáng lên. Trắng. Rồi vàng nhạt. Rồi vàng chanh. Tiếng ù trầm vang lên từ sâu trong ngực ông, như con mèo lớn đang gừ trong cổ. Rồi tiếng lách cách khẽ, cái tiếng như ai lần chuỗi hạt.
– Năm giờ bốn mươi. – Anh Huân đọc. Rồi anh ta ngồi phịch xuống nền đất, ôm mặt.
Ông Gù quay đầu. Hai đèn mắt vàng chanh nhìn quanh cái chòi. Nhìn bà Rỡ ở cửa. Nhìn bác Lẫm. Nhìn Trượng đang quỳ, người ướt sũng, đầu gối chảy máu. Nhìn con bé.
– Con. – Ông nói.
Nhặt òa khóc.
Ông Gù nhìn nó. Rồi ông nhìn xuống bàn tay trái của mình, cái bàn tay đang nằm trong lòng con bé. Màu kem ngả vàng. Các ngón tròn tròn. Đầu ngón có vết khâu chỉ. Ông nhìn nó rất lâu, như người ta nhìn một thứ mình chưa thấy bao giờ.
– Cái tay này của ai? – Ông hỏi.
— Hết chương 34 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe