Chương 29: Chữ khắc dưới lớp sơn
– Bả vậy đó. – Bà Hai Sen nói, rót nước chè xanh vào ba cái chén mẻ. – Mà con đừng có giận bả. Hai tuần nay sáng nào bả cũng ra đứng cổng.
Nhặt ngẩng lên.
– Bà ngoại con đứng cổng?
– Đứng từ lúc gà gáy. Đứng tới lúc mặt trời lên ngọn tre. Tao hỏi bả đứng chi, bả nói đứng coi nước. Coi nước mà đứng ngoài cổng, quay lưng ra sông. – Bà Hai Sen cười, cái cười móm. – Cả xóm biết bả chờ ai. Có cán bộ xã xuống đọc lời nhắn của con cho bả nghe, hai lần. Lần nào bả cũng nghe hết, rồi đuổi cán bộ về, rồi đóng cửa.
Nhà bà Hai Sen ở sát vách nhà bà Rỡ, cách một hàng dâm bụt. Bà là người đầu tiên chạy ra khi thấy cánh cổng tre đóng lại, thấy một đứa con nít đứng ôm hai cái hũ gốm trắng trước cổng mà không khóc. Bà kéo cả ba vào nhà mình, cả cái máy, không hỏi một câu. Giờ ba người ngồi trên bộ ván gỗ ở nhà ngang, ông Gù ngồi bệt dưới hiên, lưng tựa cột, nhìn ra con kênh.
– Ổng là gì của con? – Bà Hai Sen hỏi, hất cằm về phía Trượng.
Nhặt nhìn Trượng. Trượng nhìn xuống chén nước.
– Ba con. – Nhặt nói.
Nó nói xong thì ngồi im. Nó không định nói. Câu đó tự bật ra, như câu hỏi trong hầm mười bốn. Trượng không ngẩng lên. Nhưng Nhặt thấy tay anh cầm chén nước run một cái, nước sánh ra ngoài.
Bà Hai Sen không để ý. Bà chỉ gật gù.
– Vậy là con Ươm có chồng trên đó. Trời đất. Vậy mà bả nói con Ươm không có ai.
Không ai sửa lại câu đó.
Chiều xuống. Gió từ phía biển thổi vào mạnh hơn, mang theo mùi mặn. Nước sông Cái dâng lên, dâng chậm, dâng đều, tràn dần vào con kênh dẫn. Đứng dưới hiên nhà bà Hai Sen nhìn ra, Nhặt thấy mặt nước trong kênh cao dần lên theo mấy bậc đá ở bờ, một bậc, hai bậc.
– Nước lên. – Ông Gù nói.
– Đêm nào nước cũng lên. – Bà Hai Sen nói. – Nước lớn thì phải đóng cống, không đóng thì nước mặn vô ruộng. Mà cái máy đóng cống bằng điện hư từ năm ngoái. Xã nói chờ tiền sửa. Giờ phải quay tay. Thằng Lộc con tao giữ cống, xã thuê. Đêm nào nước lớn là nó với hai thằng bạn ra quay. Ba thằng thanh niên quay muốn gãy lưng.
Ông Gù không nói gì. Ông nhìn ra cái cống.
Mười giờ đêm, Nhặt đang nằm trên bộ ván, chưa ngủ được, thì nghe tiếng người la ở phía cống.
Nó ngồi dậy. Qua khe cửa, nó thấy ánh đèn pin lắc lư ở trên mặt cống. Ba cái bóng người đang bám vào cái bánh xe tay quay to bằng cái nia. Tiếng một người la: quay đi, quay đi, kẹt rồi. Tiếng một người khác: mày đẩy ngược chiều. Tiếng sắt rít lên ken két, rồi im.
– Kẹt rồi. – Bà Hai Sen nói trong bóng tối, ở cái giường bên kia. – Đêm nào cũng kẹt một lần. Năm ngoái có đêm ba đứa quay tới sáng.
Ông Gù đứng dậy.
Nhặt nghe tiếng chân sắt nện xuống nền hiên. Nó vùng dậy chạy ra. Ông Gù đã đi ra tới cái lối mòn dọc bờ kênh, đi về phía cống, cái lưng gù in đen trên nền nước bạc.
– Ông Gù! Ông đi đâu?
Ông Gù không quay lại.
– Gù không biết. – Ông nói. – Chân Gù đi.
Quạt không kêu.
Nhặt chạy theo. Trượng chạy theo sau con bé, áo khoác chưa kịp mặc.
Trên mặt cống, thằng Lộc với hai thằng bạn đứng thở hồng hộc, tay chống lên đầu gối. Cái bánh xe tay quay đứng im, một nửa cánh cống còn hở, nước mặn vẫn ào ào chảy qua khe hở vào kênh. Thấy cái máy gù lưng đi lên cầu thang đá của cống, ba thằng lùi lại, chiếu đèn pin vào mặt nó.
– Cái gì đây?
Ông Gù không trả lời. Ông đi tới cái bánh xe tay quay. Ông đứng trước nó một lúc. Hai đèn mắt vàng chanh nhìn cái bánh xe, nhìn cái trục, nhìn cái hộp bánh răng gỉ đỏ nằm bên dưới. Rồi tay ông làm.
Ông không nắm bánh xe ngay. Tay trái mềm của ông lần xuống dưới, tìm một cái chốt nhỏ bằng sắt ở hông hộp bánh răng, cái chốt mà ba thằng thanh niên không biết là có. Ông rút nó ra nửa chừng. Rồi tay phải ông nắm vành bánh xe, quay ngược lại nửa vòng, nhẹ, chậm. Có tiếng cạch. Rồi ông đẩy cái chốt vào lại. Rồi ông nắm bánh xe bằng cả hai tay, chân sắt dang ra, cái lưng gù cong xuống, và ông quay.
Cái bánh xe chạy. Không ken két. Chạy đều, nặng, chắc, như cối xay lúa. Hai cánh cửa thép dưới chân cống nhích dần vào nhau. Tiếng nước ào ào nhỏ dần. Nhỏ dần. Rồi tắt hẳn.
Cống đóng.
Ông Gù buông tay. Ông đứng im trên mặt cống.
Ba thằng thanh niên đứng sững. Thằng Lộc chiếu đèn pin vào cái chốt nhỏ ở hông hộp bánh răng.
– Cái chốt này… – Nó nói. – Tao giữ cống một năm mà không biết có cái chốt này.
Lúc đó có ánh đèn từ phía đầu xóm đi tới. Một ngọn đèn dầu, ánh vàng đỏ chập chờn, lắc lư theo bước chân người. Người cầm đèn đi chậm, vì mắt kém, vì lối mòn trơn. Tới chân cầu thang đá của cống thì người đó dừng lại, giơ cao ngọn đèn lên.
Bà Rỡ.
Bà nhìn lên mặt cống. Bà thấy cái máy gù lưng đứng cạnh cái bánh xe tay quay. Bà thấy hai cánh cửa cống đã đóng kín. Bà nheo mắt, giơ ngọn đèn cao hơn nữa.
Rồi bà nói. Giọng bà khàn, đục, nhỏ, như tiếng một người gọi một cái tên mình đã không gọi suốt mấy chục năm.
– Ông Gù.
Nhặt đứng sững. Giọng ấy không gọi một cái máy lạ. Giọng ấy gọi một người quen, một người đi xa lâu lắm rồi mới về.
Bà Rỡ đi lên cầu thang đá. Từng bậc. Chậm. Một tay cầm đèn, một tay vịn vào vách cống. Thằng Lộc chạy xuống đỡ bà, bà gạt tay nó ra. Bà lên tới mặt cống, đi thẳng tới trước mặt cái máy, gần tới mức ngọn đèn dầu soi sáng cả hai đèn mắt vàng chanh của nó.
Bà nhìn nó rất lâu.
– Xoay lưng lại. – Bà nói.
Ông Gù xoay lưng lại.
Bà Rỡ đặt ngọn đèn dầu lên cái hộp bánh răng. Bà đưa bàn tay nhăn nheo lên lưng cái máy. Bà sờ. Bà sờ dọc cái lưng gù, chậm, như người mù đọc chữ. Bà sờ tới dưới vai trái, sát chỗ cái quai thùng gom ngày xưa bắt vào. Ở đó có một mảng sơn bằng bàn tay người lớn, màu hơi vàng hơn chỗ khác, hơi mới hơn, như một miếng băng dán trên da người.
Ngón tay bà dừng ở đó.
Rồi bà kéo tay áo bà ba lên, bọc lấy mấy đầu ngón tay, và bà chà.
Nhặt định nói "má cấm chà chỗ đó". Nó không nói được.
Lớp sơn ấy mỏng, cũ, đã giòn. Nó bong ra từng vảy nhỏ dưới tay áo bà Rỡ, rơi lả tả xuống mặt cống như vỏ trấu. Bên dưới là lớp sơn cũ hơn nữa, màu xanh rêu đã bạc. Và trên lớp sơn xanh rêu ấy, khắc sâu vào lớp kim loại, nét vụng, nét to, nét run như con nít lấy đinh khắc lên vỏ cây, có ba chữ cái.
ƯƠM.
Bà Rỡ không cần đèn để đọc. Ngón tay bà lần theo từng nét. Cái móc của chữ Ư. Cái dấu của chữ Ơ. Cái chữ M bị lệch, một chân dài một chân ngắn.
Bà đứng im.
Bà đứng im lâu tới mức ngọn đèn dầu trên hộp bánh răng bắt đầu lụi dần, khói đen bốc lên. Gió từ biển thổi qua mặt cống, lạnh. Không ai nói gì. Thằng Lộc với hai thằng bạn đứng nép vào lan can. Trượng đứng ở chân cầu thang. Nhặt đứng cách bà ba bước.
– Năm hai trăm bảy mươi chín. – Bà Rỡ nói. Bà nói với cái lưng gù, không quay lại. – Con Ươm sáu tuổi. Nó lấy cái đinh ba phân, ngồi trên lưng cái máy giữ cống mà khắc. Tao đánh nó một trận. Nó khóc. Mà nó không chịu chà đi. Nó nói ông Gù là của con, con phải ghi tên con lên, lỡ người ta lấy.
Bà ngừng lại. Bà thở. Tiếng thở khò khè.
– Cái máy này giữ cống Mỏ Cò từ năm hai trăm sáu mươi hai. Hồi tao mười sáu tuổi nó đã đứng ở đây. Làng gọi nó là ông Gù, vì cái lưng nó đeo cái bồn bơm nước, gù y như vầy. Ba con Ươm mất hồi nó hai tuổi. Tao ra đồng từ sáng tới tối. Con Ươm ngồi với cái máy. Cái máy dạy nó đếm. Cái máy dạy nó coi nước. Cái máy dạy nó ngâm thóc giống. – Bà quay lại, nhìn Nhặt bằng hai con mắt đục. – Ba sôi hai lạnh. Mày biết không. Ba sôi hai lạnh là cái máy này dạy cả làng.
Nhặt không thở được.
– Năm hai trăm tám mươi, tàu rơi ở Mũi Hến. – Bà Rỡ nói. – Năm sau có luật. Máy pin đồng vị muốn ở lại thì phải thay pin. Thay pin tốn tiền bằng cả làng làm ba vụ. Làng không có tiền. Người ta tới chở nó lên trời. Con Ươm tám tuổi, chạy theo xe tới tận bến phà. Khóc ba tháng không nói.
Bà quay lại nhìn cái máy. Ông Gù vẫn đứng xoay lưng, không động đậy.
– Năm hai trăm chín mươi bảy, nước mặn vô, mất giống. Có một thằng ở xã bên đi làm thợ trên trời về, kể ở cái trạm sắt quanh hành tinh đồng có một con máy thu gom gù lưng, ngâm thóc giỏi lắm, mà không ai biết sao nó biết. – Bà nói, chậm. – Con Ươm nghe xong thì đi. Tao không cho. Nó cãi. Tao nói mày bỏ má mày để đi kiếm cái máy. Nó nói con đi kiếm ông Gù về giữ cống cho má. Tao nói đi thì đừng về.
Bà im.
– Nó không về.
Ở chân cầu thang đá, Trượng đứng im trong gió. Anh nghĩ tới một câu trong lời nhắn thứ mười một, cái câu anh nghe trong khoang hàng Mũi Lao mà không hiểu: Ông Gù có một chuyện mà chính ổng không biết. Tôi để má tôi nói.
Ông Gù quay người lại.
Hai đèn mắt vàng chanh nhìn bà già nhỏ thó đứng trước mặt mình. Tiếng lách cách khẽ trong ngực ông chạy, chậm, đều, như ai đang lần một chuỗi hạt mà không biết hạt nào là hạt đầu.
– Gù không nhớ. – Ông nói.
Quạt không kêu.
– Tao biết. – Bà Rỡ nói. – Mày không nhớ. Mà tay mày nhớ cái chốt.
Bà cúi xuống, cầm ngọn đèn dầu đã gần tắt lên. Bà đi xuống cầu thang đá, chậm, từng bậc. Không ai đỡ, bà cũng không cần ai đỡ. Tới chân cầu thang, bà dừng lại trước Trượng, nhìn anh một cái, không hỏi anh là ai. Rồi bà nhìn qua anh, nhìn con bé đang đứng trên mặt cống, hai tay ôm lấy nhau.
– Vô nhà. – Bà nói. – Cả ba.
Nhặt chạy xuống cầu thang. Nó dừng lại trước bà.
Bà Rỡ giơ ngọn đèn lên, soi vào mặt nó. Lần đầu tiên bà nhìn nó gần như vậy. Bà nhìn cái trán dô. Hai hàng lông mày rậm ở đầu, nhạt dần ở đuôi. Cái cằm nhọn. Không có cái gì giống con Ươm.
Rồi bà hỏi một câu. Giọng bà không còn khàn đục nữa. Nó rõ, khô, như con dao lạt tre.
– Hũ nhỏ là của ai?
— Hết chương 29 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe