Chương 33: Đêm ông Táo
Con cá chép trong cái chậu thau trên bàn thờ nhà bà Rỡ quẫy mạnh một cái, nước văng ra mặt bàn, đúng lúc điện cả xóm Bờ Đê tắt phụt.
Lúc đó là tám giờ tối. Nhặt đứng cạnh bàn thờ, tay cầm nén nhang. Bà Rỡ đang khấn, khấn nhỏ, đều đều, như nói chuyện với ai ngồi trong bếp. Ông Táo về trời, bà nói, ông lên tâu với Ngọc Hoàng năm nay nhà này có khách. Có con cháu về. Có ông Gù về. Bà khấn tới đó thì điện tắt.
Trong bóng tối, chỉ còn ba đốm nhang đỏ. Ngoài kia gió gào. Không phải gió như ở Bến Sắt, cái gió máy thông khí thổi đều đều. Đây là gió thật, gió từ biển thổi vào, nặng, ướt, mặn, đập vào vách nhà, đập vào mái ngói, lật tung mấy tàu lá chuối sau hè. Cây mít rên lên từng chập.
– Cúp điện. – Bà Rỡ nói, như nói một chuyện bình thường. – Năm nào gió chướng cũng cúp.
Bà thắp ngọn đèn dầu. Rồi bà bưng cái chậu thau có con cá chép, đưa cho Nhặt.
– Đem ra kênh thả. – Bà nói. – Thả rồi về liền. Đừng có đứng ngoài đó.
Nhặt ôm cái chậu ra cầu ao, không phải ra kênh, vì kênh giờ sóng vỗ trắng xóa, nước dâng lên gần tới mặt bờ. Nó đổ con cá xuống ao. Con cá vẫy đuôi một cái rồi lặn mất. Nó đứng đó một lúc, nhìn mặt ao, nhìn ra cái cống Mỏ Cò đen sẫm phía xa. Trên mặt cống có mấy ánh đèn pin lắc lư. Thằng Lộc với mấy ông thanh niên trong xóm, từ chiều tới giờ chưa rời khỏi đó.
Rồi nó chạy lên trụ sở xã.
Trụ sở xã tối om. Trong phòng hòa giải chỉ có một ngọn đèn sạc ai đó để trên bậu cửa sổ. Ông Gù vẫn nằm trên cái bàn dài phủ khăn xanh, hai đốm cam mờ. Trượng ngồi trên cái ghế nhựa cạnh bàn. Bác Lẫm ngồi ở cái ghế sát vách. Anh Huân đứng ở cửa, cái áo vest đã cởi ra vắt trên tay, áo sơ mi trắng ướt một bên vai.
Nhặt ngồi xuống cạnh đầu ông Gù. Nó nắm bàn tay mềm. Mát, như mọi lần ông nằm yên.
– Ông nghe con không?
– Nghe. – Giọng ông nhỏ, chậm, như nói trong mơ.
– Ông còn bao nhiêu?
– Bảy giờ mười phút. Nằm yên.
Mười giờ đêm, thằng Lộc chạy vào.
Nó không gõ cửa. Nó đẩy cửa xông vào, áo mưa rách toạc, mặt mũi ướt nhẹp, thở không ra hơi. Ngọn đèn sạc trên bậu cửa sổ soi lên mặt nó trắng bệch.
– Không được. – Nó nói. – Tụi con quay không được. Năm đứa rồi mà quay không được. Cánh cống hở hai gang tay. Nước tràn qua bờ kênh rồi. Ruộng xóm dưới ngập trắng. Thêm một giờ nữa là tới vườn nhà bà Rỡ. Thêm hai giờ là vô xóm.
Không ai nói gì.
– Ruộng ngập mặn thì sao? – Nhặt hỏi, giọng nó nhỏ.
– Thì năm nay khỏi gieo. – Thằng Lộc nói. – Đất mặn ba năm mới rửa sạch.
Nhặt quay lại nhìn ông Gù.
Hai đốm cam trên mặt ông đã sáng lên thành hai đèn vàng chanh.
Ông Gù ngồi dậy.
Ông không ngồi dậy nhanh. Ông chống tay phải lên mặt bàn, cái mỏ cắt cào lên tấm khăn xanh, rồi ông nhấc người lên. Ông thả hai chân sắt xuống sàn. Ông đứng dậy. Đầu ông chạm cái quạt trần không quay, cái quạt đung đưa.
– Ông Gù. – Nhặt nói.
– Gù đi. – Ông Gù nói.
– Ông đi là ông tắt.
– Phải.
Quạt không kêu.
Anh Huân bước tới một bước, đứng giữa cửa.
– Ông… – Anh ta nói. Rồi anh ta dừng lại. Anh ta nhìn cái máy gù lưng cao hơn mình nửa cái đầu, đứng giữa căn phòng tối, hai đèn mắt vàng chanh nhìn xuống mình. – Biên bản ghi máy giữ nguyên tại trụ sở xã. Ông đi là trái biên bản.
– Gù biết. – Ông Gù nói.
Anh Huân không tránh ra. Mà anh ta cũng không chặn. Anh ta chỉ đứng đó.
– Anh Huân. – Trượng nói. Anh không đứng dậy. Anh nói từ cái ghế nhựa, giọng mệt, đều. – Anh ghi vào biên bản đi.
Anh Huân nhìn anh. Rồi nhìn bác Lẫm. Bác Lẫm ngồi im, cặp kính nứt, hai tay đặt trên đầu gối.
Anh Huân tránh sang một bên.
Ông Gù đi ra cửa. Tới cửa, ông dừng lại, quay đầu nhìn con bé.
– Con cầm đèn cho Gù.
Nhặt chụp lấy cái đèn sạc trên bậu cửa sổ, chạy theo.
Đường từ trụ sở xã ra cống Mỏ Cò dài hai cây số, chạy dọc bờ kênh. Gió thổi ngang, thổi muốn hất người xuống kênh. Mưa quất vào mặt rát như cát. Nhặt cầm cái đèn sạc soi trước chân ông Gù. Chân sắt của ông nện xuống con đường đất đã nhão thành bùn, lún tới mắt cá, rút lên, lún xuống. Ông đi đều. Không nhanh. Không chậm. Như hôm ông đi về phía lò số Hai.
Sau lưng hai người có tiếng chân chạy. Trượng. Bác Lẫm. Rồi một bóng người thứ ba, áo sơ mi trắng ướt dính vào lưng, chạy lóng ngóng, trượt chân hai lần trên đường bùn.
Anh Huân.
Trên mặt cống, năm cái bóng người đang bám vào cái bánh xe tay quay. Nước dưới chân cống gầm lên như cái lò số Hai. Nước sông Cái đen ngòm, dâng lên gần tới miệng cống, sóng vỗ vào thành bê tông, bắn tung bọt trắng lên tận mặt cống. Qua khe hở giữa hai cánh cửa thép, nước mặn phụt vào kênh, chảy cuồn cuộn về phía đồng.
Ông Gù đi lên cầu thang đá. Mấy ông thanh niên lùi ra.
Ông đứng trước cái bánh xe tay quay. Ông không nắm nó. Ông cúi xuống, áp cái bàn tay mềm lên hông hộp bánh răng. Để yên đó. Ông đang nghe. Nhặt rọi đèn vào tay ông, thấy mưa chảy dọc theo các ngón tay màu kem, nhỏ xuống hộp bánh răng gỉ đỏ.
– Răng mười bốn gãy rồi. – Ông nói. – Gãy hẳn. Phải nhấc trục lên một nấc. Cho bánh răng nhỏ ăn vào răng mười lăm. Rồi quay. Mỗi vòng tới chỗ răng gãy thì nó trượt. Phải có người chêm.
– Chêm bằng gì? – Thằng Lộc la lên trong gió.
– Gỗ. Cây gỗ cứng. Dài bằng cánh tay.
Thằng Lộc chạy đi. Một phút sau nó quay lại với một khúc gỗ lim tháo từ cái cầu ao nhà bà Hai Sen.
Ông Gù bật mỏ cắt. Ngọn lửa xanh lét nhỏ bằng sợi chỉ hiện ra ở đầu mỏ, run run trong gió. Ông cắt con bu lông giữ nắp hộp bánh răng, con bu lông gỉ dính chặt từ mấy chục năm. Ông lật nắp hộp ra. Bên trong, hai cái bánh răng ăn khớp vào nhau, một cái to bằng cái mâm, một cái nhỏ bằng cái chén. Ở cái to có một chỗ trống, như cái miệng rụng răng.
Ông Gù đặt tay phải lên cái trục. Ông nhấc. Cái lưng gù của ông cong xuống. Tiếng ù trong ngực ông to lên. Cái trục nhích lên một nấc. Cạch.
– Quay. – Ông nói.
Năm ông thanh niên bám vào bánh xe tay quay. Ông Gù bám vào. Trượng bám vào. Bác Lẫm bám vào. Anh Huân đứng sững một giây, rồi bám vào, hai tay văn phòng trắng trẻo nắm lên vành sắt gỉ.
Cái bánh xe nhích. Một gang tay. Hai gang tay. Rồi tới chỗ răng gãy. Rắc. Bánh xe giật ngược lại.
– Chêm! – Ông Gù nói.
Thằng Lộc thọc khúc gỗ lim vào khe bánh răng. Bánh xe đứng lại.
– Quay.
Cứ như vậy. Quay. Trượt. Chêm. Quay. Mỗi vòng mất mười phút. Mỗi vòng hai cánh cửa thép dưới chân cống nhích vào nhau một gang tay.
Mười một giờ.
Bà Rỡ ra tới chân cầu thang đá, ngọn đèn dầu trong tay, áo tơi lá trùm trên đầu. Bà không lên. Bà đứng dưới đó, giơ ngọn đèn lên cao, như đêm hai mươi.
Mười hai giờ.
Nhặt đứng sát bên ông Gù, cầm đèn sạc. Nó thấy hai cái đèn mắt vàng chanh của ông nhạt đi. Không nhiều. Một chút. Như cái bóng đèn đường lúc gần sáng.
– Ông còn bao nhiêu? – Nó hỏi.
– Gù không đo nữa. – Ông nói. – Đo thì chậm tay.
Quạt không kêu.
Một giờ.
Nước trong kênh không phụt vào nữa. Nó chỉ còn rỉ qua một cái khe nhỏ bằng hai ngón tay. Gió vẫn gào. Sóng vẫn vỗ. Mấy ông thanh niên thở dốc, có ông quỳ cả xuống mặt cống mà vẫn bám bánh xe. Anh Huân bị trầy cả hai bàn tay, máu rỉ ra lẫn vào nước mưa. Anh ta không buông.
Hai đèn mắt của ông Gù nhạt thêm. Giờ chúng không còn là vàng chanh nữa. Chúng là vàng nhạt, như hai đốm lửa nến.
– Vòng cuối. – Ông Gù nói.
Mọi người bám vào. Bánh xe nhích. Một gang tay. Hai gang tay. Tới chỗ răng gãy. Thằng Lộc chêm. Quay. Một gang tay.
Dưới chân cống, có một tiếng cộp. Trầm. Nặng. Như tiếng hai cánh cửa gỗ mít đóng lại.
Hai cánh cửa thép đã khép kín.
Tiếng nước rỉ tắt. Chỉ còn tiếng sóng ngoài sông đập vào thành bê tông, và tiếng gió.
Không ai la. Không ai vỗ tay. Mấy ông thanh niên buông bánh xe, ngồi phịch xuống mặt cống, thở. Anh Huân đứng nhìn hai bàn tay mình. Bác Lẫm vịn vào lan can, đầu cúi xuống. Trượng đứng thẳng, nhìn ông Gù.
Ông Gù buông bánh xe ra.
Ông đứng im một lúc. Rồi ông ngồi xuống. Ông ngồi bệt xuống mặt cống ướt, lưng tựa vào cái hộp bánh răng, hai chân sắt duỗi ra, như ông vẫn ngồi trong xưởng sửa máy ở Bến Sắt mỗi đêm. Cái mảng sơn bị chà tróc dưới vai trái áp vào thành hộp sắt.
Nhặt quỳ xuống trước mặt ông. Nó đặt cái đèn sạc xuống mặt cống. Ánh đèn trắng soi lên hai đốm vàng nhạt trên mặt ông.
– Ông Gù.
– Gì con.
– Ông tắt hả ông?
– Phải.
Nó nắm lấy bàn tay mềm. Vẫn còn ấm. Ấm ít lắm.
– Con kể ông nghe. – Nó nói nhanh, như sợ không kịp. – Con kể ông nghe hết. Ông quên cái gì con kể cái đó. Ông quên má con kể má. Ông quên Bến Sắt con kể Bến Sắt. Con nhớ hết.
– Gù biết.
Ông đưa bàn tay mềm lên, chậm, rất chậm, đặt lên má con bé. Như hôm ở khoang số Ba.
– Con nhớ giùm Gù. – Ông nói.
Hai đốm vàng nhạt tắt.
Bàn tay mềm trên má Nhặt không rơi xuống. Nó vẫn đặt đó. Mà Nhặt thấy cái ấm rút đi, từ đầu ngón tay trước, chậm, như nước rút khỏi cái chén.
Bác Lẫm nhìn cái đồng hồ trên tay mình. Bác đọc to, giọng đều, như đọc văn bản. Giọng bác không run một chữ nào. Chỉ có cái tay cầm đồng hồ là run.
– Hai giờ không phút.
— Hết chương 33 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe