AI Truyện
Ông Gù đưa con về đất

🚀 Khoa học viễn tưởng

Gieo

Ông Gù đưa con về đất · Chương 36/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 36: Gieo

Cái hố thứ nhất Trượng đào sâu ba gang tay, cái hố thứ hai sâu hai gang, và bà Rỡ đứng trên bờ ruộng coi từng nhát cuốc, không cho ai đào giùm anh.

– Đàn ông nhà này thì đàn ông đào. – Bà nói.

Lúc đó là sáng ngày hai mươi tám tháng Chạp. Trời hửng nắng sau ba ngày gió chướng, cái nắng cuối năm vàng nhạt như nước nghệ. Bờ ruộng sau nhà bà Rỡ chạy dọc theo ô ruộng lớn nhất, ô ruộng má hay kể là chỗ đẹp nhất làng, đất đen, giữ nước giỏi. Ở đầu bờ có cây mít. Ở cuối bờ là con kênh dẫn nước từ cống Mỏ Cò về.

Nhặt đứng ở đầu cái hố thứ nhất, ôm cái hũ gốm trắng của má. Hũ nặng. Hai ký rưỡi, bác Lẫm nói ở Bến Sắt. Nó đã ôm cái hũ này qua vành bức xạ Lão Đồng, qua Hòn Lăn, qua bốn mươi ngày trên Mũi Lao, qua cái sân bến tàu con thoi lúc trời mưa. Bây giờ nó phải đặt xuống.

Nó quỳ xuống bờ đất. Nó đặt cái hũ xuống đáy hố. Đất lạnh, ẩm, đen, có mùi như mùi sân bến lúc mưa mà đậm hơn.

Rồi nó cầm cái hũ nhỏ. Nó đặt cái hũ nhỏ vào cái hố thứ hai, sát bên, cách một lớp đất mỏng chừng hai ngón tay, như người ta để đứa con nít ngồi sát vào lòng mẹ.

Không ai nói gì. Bác Lẫm đứng trên bờ ruộng, cặp kính nứt, hai tay chắp sau lưng. Bà Hai Sen đứng sau hàng dâm bụt. Ông Gù đứng cuối bờ, cái lưng gù in bóng xuống mặt ruộng nước.

Trượng lấp đất. Anh lấp chậm, mỗi lần một nắm, bằng tay chứ không bằng cuốc.

Khi hai cái hố đã thành hai cái gò đất nhỏ, Nhặt đứng dậy. Nó đi về phía cây mít, lôi ra cái thứ nó dựng ở gốc cây từ sáng. Tấm vỏ thép to bằng cái mâm cơm, một mặt sơn nâu sơn vàng hình con chim sẻ đứng trên cọng lúa cong, đầu nghiêng, như đang nghe ai gọi. Bên dưới là ba chữ trắng: Sẻ Đồng.

Ông Gù đi tới. Ông cầm lấy tấm vỏ bằng bàn tay mềm, cắm cạnh dưới của nó xuống đất ở đầu hai cái gò, ấn xuống. Đất mềm. Tấm thép đứng thẳng.

Con chim sẻ quay mặt ra ruộng.

– Má. – Nhặt nói nhỏ. – Má về tới rồi.

Rồi nó không nói được nữa.

Bà Rỡ đứng nhìn tấm vỏ thép. Nhìn lâu. Rồi bà nói, giọng cộc, như la ai:

– Con Ươm vẽ con chim mỏ lệch.

– Dạ. – Nhặt nói.

– Hồi nhỏ nó vẽ con gà cũng mỏ lệch. – Bà nói. Rồi bà quay đi, đi vào nhà, không nói thêm.

Nhặt đứng ở đầu bờ. Nó nghĩ tới cái đêm giao thừa năm nó lên tám, má say, tựa lưng vào ông Gù, kể chuyện chôn nhau cắt rốn. Nhau của má chôn dưới gốc cây mít sau nhà bà ngoại. Còn con thì chưa có chỗ.

Cái nhau của nó, nó không biết ở đâu. Chắc là đã rơi đâu đó ở Bích Hải, mười một năm trước, ở một cái bệnh viện nó không nhớ tên. Cái hũ nó tưởng là cái nhau của nó thì vừa chôn xuống bờ ruộng này.

Bà Rỡ trong nhà la vọng ra:

– Con nhỏ kia! Đứng đó làm cột mốc hả? Vô lặt rau!

Nhặt chạy vào.

Chiều ba mươi Tết, thằng Kíp tới.

Nó đi chuyến xe khách sớm nhất từ Bích Hải, cô quản lý đi theo, cầm cái giỏ đầy bánh trái. Ông Ba Rạng chở hai cô trò từ bến xe Ngã Ba Sương xuống bằng xe ba gác. Thằng Kíp ngồi trên thùng xe, tóc dựng như cái chổi, hai tay bám thành xe, miệng há hốc nhìn ruộng.

Nó nhảy xuống trước cổng nhà bà Rỡ, chạy thẳng tới chỗ ông Gù đang ngồi dưới gốc mít, chụp lấy bàn tay trái của ông mà lắc, rồi đứng sững.

– Ông… ông Gù. Tay ông ấm. Y như hồi trên trạm.

Ông Gù nhìn xuống bàn tay trái.

– Ấm lại rồi. – Ông nói.

Đó là việc Trượng làm suốt hai ngày sau phiên cân thóc. Anh mở ngực ông Gù ra, lần theo cái đường ống nhỏ má đi từ chỗ pin cũ ra tới lòng bàn tay trái, cái đường ống chạy ngang qua cái hốc trống như cầu khỉ qua kênh cạn. Anh không cắt nó. Anh hàn thêm một khúc ống mới, nối vào cái tấm tản nhiệt của khối pin xanh lá, chỗ pin nóng lên mỗi khi ông Gù làm việc. Mối hàn của anh không đẹp bằng mối hàn của má. Chị Phên mà thấy chắc chửi. Nhưng bàn tay mềm ấm lại.

Bà Năm Lò không tới được. Bà ở với một đứa cháu ở tận miệt sông nước phía nam, đi ba ngày đường. Bà gửi theo thằng Kíp một cái thùng giấy. Trong thùng có năm ký cá khô, hai hũ muối mè, một bịch chà bông, và một mảnh giấy viết chữ to, nét run: Ăn cho đủ. Đừng có khóc. Nói bà Rỡ năm sau tao xuống.

Bà Rỡ đọc mảnh giấy, đọc lâu vì mắt kém, rồi gấp lại, nhét vào túi áo bà ba.

Tối ba mươi, bếp nhà bà Rỡ đỏ lửa suốt đêm. Bà nấu một nồi xôi gấc, nếp thường. Lửa rơm nhóm mãi không lên vì rơm còn ẩm sau bão. Trượng ngồi xổm trước bếp, móc trong túi áo ngực ra một xấp giấy gấp làm tư. Mười chín tờ. Cạnh đã sờn. Có tờ ố vàng.

Nhặt ngồi cạnh anh. Nó nhìn xấp giấy.

Trượng rút từng tờ ra, mở ra, đọc lướt, rồi nhét vào giữa mấy cuộn rơm ẩm. Mười tám tờ. Tờ nào cũng là một cái máy, một cái nôi, một chữ rỗng. Lửa bén vào giấy trước, rồi bén sang rơm. Ngọn lửa bùng lên, liếm đáy nồi xôi.

Tờ thứ mười chín anh cầm lâu hơn. Số 0447. Hai mươi tháng Tư năm ba trăm. Vành rác Hòn Mốc, khu C. Rỗng.

Anh đưa nó cho con bé.

Nhặt cầm tờ giấy. Nó không đốt. Nó gấp lại làm tư, đúng theo nếp cũ, cất vào túi áo khoác xanh cổ vịt.

Sáng mùng một Tết, Nhặt mở hộp thóc.

Mỗi năm chỉ mở một lần, ngày mồng Một Tết, má dặn. Từ Tết năm ngoái tới giờ nó đã mở ba lần, mà lần này mới là lần đúng. Nó ngồi trên cái chõng tre gian giữa, trước bàn thờ, nơi tấm hình người đàn ông trẻ đội nón cối đứng cạnh một bát hương mới. Bà Rỡ ngồi đối diện. Ông Gù ngồi ngoài hiên. Trượng, bác Lẫm, thằng Kíp, cô quản lý, bà Hai Sen đứng chật cửa.

Nó vặn cái nắp có khắc con chim sẻ. Nó cởi sợi chỉ đỏ se ba sợi có kim tuyến vàng ở giữa. Nó đổ ra tờ giấy dầu.

– Hai trăm lẻ bốn. – Ông Gù nói ngoài hiên.

Thằng Kíp trố mắt.

– Ông đếm bằng tai hả?

– Gù đếm bằng tiếng.

Sáng hôm đó có ba tin nhắn tới cái máy liên lạc của Trượng. Tin thứ nhất từ chợ Hòn Lăn, ba phút tiếng nói, đi hai mươi lăm phút mới tới. Giọng bà Bảy Sầm, chua, gắt, nói tiền trước tình sau: Sẻ Đồng kéo được ba cái xác rồi, van không nứt, máy lì như trâu. Rồi bà im một lúc, rồi bà nói thêm, giọng nhỏ hơn: cái đèn đỏ tao treo rồi, cột tám mươi bảy, cạnh cái đèn của thằng Tư. Tin thứ hai từ cảng Vành Ngọc, có một chữ "chết cha" ở đầu và một câu chúc Tết ở cuối. Tin thứ ba từ phòng khám hẻm số Bốn, chỉ có hai câu: Nhớ cắt tóc chỗ vết khâu cho gọn. Ăn Tết vui.

Sáng mùng sáu tháng Giêng, ngày đẹp làng hay gieo, cả xóm Bờ Đê ra bờ ruộng sau nhà bà Rỡ.

Ba hôm trước, ông Gù đã ngâm hai trăm lẻ bốn hạt. Ba sôi hai lạnh. Ông pha nước bằng tay phải, thử nước bằng ngón tay mềm. Bà Rỡ đứng coi, không nói gì. Hai ngày sau, hạt nứt nanh. Không phải hạt nào cũng nứt. Nhặt đếm. Một trăm năm mươi mốt. Bà Rỡ nói vậy là nhiều. Bảy hạt ngâm thử hôm hai mươi hai tháng Chạp đã mọc thành bảy cây mạ con trong cái chậu sành, xanh non, cao bằng ngón tay.

Ô mạ ở ngay đầu bờ, cạnh hai cái gò đất nhỏ có tấm vỏ thép hình con chim sẻ. Ô mạ bằng cái chiếu. Bà Rỡ đã làm đất từ hôm mùng bốn, cào phẳng, tháo nước vào ngập một lóng tay rồi rút ra, để mặt đất mềm như bột.

Bà đưa nắm hạt cho Nhặt.

– Gieo. – Bà nói.

– Con không biết gieo.

– Thì học. – Bà Rỡ nói. – Mở bàn tay ra. Không phải ném. Rải. Như rải muối vô nồi canh.

Nhặt đứng ở mép ô mạ. Nó mở bàn tay. Những hạt thóc nhỏ, dài, đầu có vệt nâu như cánh chim sẻ xếp lại, đầu kia thò ra cái mầm trắng nhỏ bằng đầu kim. Nó rải. Hạt rơi xuống mặt bùn, nằm im, lấp lánh.

Nó rải tới nắm thứ ba thì tay nó run. Ông Gù đứng sau lưng nó. Ông không giúp. Bàn tay mềm của ông để yên bên hông.

Nó rải hết.

Rồi bà Rỡ cầm cái chậu sành, nhổ từng cây mạ con trong bảy cây, cắm xuống góc ô mạ. Bảy cây. Một hàng. Như bảy người lính đứng gác.

Cả xóm đứng trên bờ ruộng coi, không ai nói gì. Rồi ông già chống gậy nói to, như nói một mình:

– Cánh Sẻ về làng.

Không ai cười.

Tháng Tư năm Định Cư ba trăm mười hai, lúa trổ.

Ruộng sau nhà bà Rỡ không còn là ô mạ bằng cái chiếu nữa. Đó là một sào ruộng, cấy từ mạ Cánh Sẻ hồi cuối tháng Giêng. Lúa cao tới ngang hông Nhặt. Bông lúa cong xuống, nặng, hạt còn xanh, mà ở đầu mỗi hạt đã có một vệt nâu, xiên xiên, giống hệt cái cánh chim sẻ xếp lại.

Ngày mười bốn tháng Tư, Nhặt tròn mười hai tuổi theo giấy. Bà Rỡ nấu một nồi xôi. Hồi đầu tháng Hai, ngày mùng ba, bà cũng nấu một nồi xôi, vì ba nói đó là ngày nó ra đời ở Bích Hải. Bà Rỡ nói một đứa con nít mà hai cái ngày sinh thì tốn nếp. Rồi bà vẫn nấu.

Chiều hôm đó mưa một trận ngắn, rồi tạnh. Mặt trời lặn đỏ sau dãy tre bên kia kênh. Nhặt đi ra bờ ruộng thăm lúa. Ông Gù đi sau lưng nó.

Ở đầu bờ, ba đang đứng. Anh vừa sửa xong cái máy đóng cống bằng tiền dư của cái nón lá ngày hai mươi bốn tháng Chạp, giờ đứng nhìn ra ruộng, tay còn dính dầu máy. Hồi tháng Giêng công ty gửi giấy cho anh nghỉ việc. Cùng phong bì có một tờ khác, chữ ký của anh Huân: chuyện tàu Sẻ Đồng, công ty đã xét, không truy thu. Anh đọc một lần rồi cất. Thấy hai người đi ra, anh không nói gì, chỉ đứng tránh sang một bên bờ cho con bé đi trước. Ở cổng nhà, bà Rỡ ngồi trên cái ghế đẩu, lặt rau, lâu lâu ngẩng lên nhìn ra.

Bờ ruộng sau mưa trơn như mỡ.

Nhặt đi được nửa bờ thì trượt chân. Chân trái nó tuột xuống mép bùn, người nó chao đi về phía ô lúa.

Một bàn tay đưa ra nắm lấy tay nó.

Không phải tay phải. Tay phải là cái mỏ cắt. Bao giờ cũng là tay trái.

Ông Gù đứng im trên bờ ruộng, bàn tay mềm màu kem nắm chặt bàn tay con bé. Ông nhìn xuống bàn tay của chính mình như người ta nhìn một thứ vừa tự làm một việc mà mình không sai bảo.

– Trơn. – Ông nói.

– Dạ.

– Gù không biết sao tay Gù đưa ra.

Nhặt đứng vững lại trên bờ đất. Nó không buông tay ông. Ông cũng không buông. Hai người đứng đó, giữa ruộng lúa Cánh Sẻ đang trổ bông. Ba nó đứng sau lưng. Ở đầu bờ, con chim sẻ mỏ lệch trên tấm vỏ thép vẫn quay mặt ra ruộng.

Con bé ngân nga trong cổ. Rất nhỏ. Không có lời.

Bàn tay ấy ấm.

— Hết —

Mục lục Ông Gù đưa con về đất

  1. 1Bàn tay vá12 phút đọc
  2. 2Bốn ký12 phút đọc
  3. 3Con sẻ trong hầm mười bốn12 phút đọc
  4. 4Nồi cháo cá khô12 phút đọc
  5. 5Người đến đếm sắt11 phút đọc
  6. 6Đêm giấu chim11 phút đọc
  7. 7Tường tro11 phút đọc
  8. 8Lò số Hai13 phút đọc
  9. 9Quỹ đạo chôn12 phút đọc
  10. 10Luật cấm hạ đất11 phút đọc
  11. 11Ba mươi tư ngày12 phút đọc
  12. 12Chợ Hòn Lăn11 phút đọc
  13. 13Xác tàu Lưng Rùa11 phút đọc
  14. 14Bát mì ở quán đầu hẻm11 phút đọc
  15. 15Khoang số Ba11 phút đọc
  16. 16Phòng khám hẻm số Bốn11 phút đọc
  17. 17Bốn mươi tám giờ11 phút đọc
  18. 18Nôi số bảy11 phút đọc
  19. 19Người đàn ông ngân bài ru12 phút đọc
  20. 20Kê biên11 phút đọc
  21. 21Tấm vỏ sơn con sẻ11 phút đọc
  22. 22Bài ru vợ tôi đặt10 phút đọc
  23. 23Mười một lời nhắn10 phút đọc
  24. 24Lệnh của công ty11 phút đọc
  25. 25Cảng Vành Ngọc11 phút đọc
  26. 26Dây cầu nguồn11 phút đọc
  27. 27Lần đầu thấy mưa11 phút đọc
  28. 28Đường về Cồn Gạo11 phút đọc
  29. 29Chữ khắc dưới lớp sơn10 phút đọc
  30. 30Bà Rỡ10 phút đọc
  31. 31Ba sôi hai lạnh9 phút đọc
  32. 32Hòa giải sớm10 phút đọc
  33. 33Đêm ông Táo10 phút đọc
  34. 34Gần bốn giờ không điện11 phút đọc
  35. 35Cái cân thóc10 phút đọc
  36. 36Gieo11 phút đọc

Về truyện này

Ông Gù đưa con về đất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →